Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Ung thư tuyến giáp - Triệu chứng và cách chẩn đoán

Các triệu chứng ung thư tuyến giáp
Ung thư tuyến giáp sớm thường không gây các triệu chứng. Tuy nhiên khi bệnh phát triển, các triệu chứng có thể bao gồm:
- Một u hay một nhân ở trước cổ vùng tuyến giáp.
- Giọng khàn hoặc khó nói giọng bình thường.
- Hạch bạch huyết sưng to, đặc biệt là các hạch cổ.
- Khó nuốt hoặc khó thở.
- Đau ở họng hoặc ở cổ.


Các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu chắc chắn của ung thư tuyến giáp. Một nhiễm trùng, một bướu giáp lành tính hoặc một vấn đề khác cũng có thể gây nên các triệu chứng này. Một người nào đó có các triệu chứng này cần đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Chỉ có bác sĩ mới có thể chẩn đoán và điều trị các biếu hiện bệnh này.

Làm thế nào để chẩn đoán phát hiện ung thư tuyến giáp?
Nếu một người có các triệu chứng gọi ý ung thư tuyến giáp, bác sĩ có thể thực hiện khám thực thể và hỏi về lịch sử bệnh của cá nhân bệnh nhân và gia đình. Bác sĩ cũng có thể chỉ định các xét nghiệm hoặc các thử nghiệm chẩn đoán hình ảnh để có các hình ảnh của tuyến giáp và các vùng khác.
Việc khám và xét nghiệm có thể bao gồm:
- Khám thực thể. Bác sĩ sẽ sờ vùng cổ, tuyến giáp và các hạch ở cổ để phát hiện những phát triển (nhân u) hoặc sưng to bất thường.
- Các xét nghiệm máu. Bác sĩ có thể xét nghiệm các mức bất thường của hormone kích thích tuyến giáp TSH trong máu. TSH cũng kiểm soát các tế bào của tuyến giáp nhanh như thế nào.
Nếu một ung thư tuyến giáp thể tuỷ bị nghi ngờ, bác sĩ sẽ kiểm tra mức cao bất thường của calci trong máu. Bác sĩ cũng có thể chỉ định các xét nghiệm máu để phát hiện gen RET biến đổi hoặc tìm mức cao của calcitonin.
Siêu âm: Máy siêu âm sử dụng sóng âm con người không nghe thấy được. Các sóng dịch chuyển qua tuyến giáp và một máy vi tính sứ dụng các âm này để tạo nên hình ảnh gọi là siêu âm đồ. Trên hình ảnh này, bác sĩ có thể nhìn thấy có bao nhiêu nhân u trong tuyến giáp, chúng lớn bằng nào và liệu chúng là đặc hay chứa đầy dịch bên trong.


Quét hình y học hạt nhân: Bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm quét hình y học hạt nhân. Phương pháp này sứ dụng một lượng rất nhỏ vật liệu phóng xạ để làm cho các nhân u tuyến giáp hiện hình trên ảnh. Các nhân hấp thụ ít các vật liệu phóng xạ hơn mô tuyến giáp xung quanh gọi là nhân lạnh. Các nhân lạnh có thể lành tính hay ác tính. Các nhân nóng hấp thụ nhiều các vật liệu phóng xạ hơn mô tuyến giáp xung quanh và thường là lành tính.
Sinh thiết: Kỹ thuật lấy mô để tìm tế bào ung thư gọi là sinh thiết. Sinh thiết có thể cho biết ung thư, những thay đối mô dãn đến ung thư và các bệnh khác. Sinh thiết là phương pháp duy nhất để biết liệu một nhân u có phải là ung thư không.
Bác sĩ có thể lấy mô bằng kim hay không trong khi phẫu thuật:
Hút kim nhỏ. Với nhiều bệnh nhân, bác sĩ lấy mẫu mô từ nhân u tuyến giáp bằng một kim nhỏ. Bác sĩ giải phẫu bệnh (bác sĩ bệnh học) quan sát các tế bào dưới kính hiển vi để tìm ung thư. Đôi khi bác sĩ sử dụng máy siêu âm đổ hướng dẫn kim vào nhân u.
Sinh thiết phẫu thuật: nếu một chẩn đoán không thể thực hiện được bằng hút kim nhỏ, bác sĩ có thể mổ để lấy nhân u. Sau đó bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ kiểm tra mô này để tìm các tế bào ung thư.

Các giai đoạn trong ung thư tuyến giáp
Nếu một chẩn đoán tuyến giáp là ung thư, bác sĩ cần biết giai đoạn bệnh (hay sự lan tràn của bệnh) để lập kế hoạch điều trị một cách tốt nhất. Xác định giai đoạn là một việc làm thận trọng để biết liệu ung thư đã lan tràn chưa và nếu đã lan tràn thì ung thư lan tràn tới phần nào của cơ thể.


Bác sĩ có thể sử dụng siêu âm, chụp cộng hưởng từ hạt nhân (còn gọi là MRI) hoặc chụp cắt lớp vi tính (còn gọi là CT) để tìm hiểu liệu ung thư đã lan tràn đến hạch bạch huyết hoặc các vùng khác ở cổ chưa. Bác sĩ cũng có thể sử dụng quét hình y học hạt nhân toàn cơ thể, chẳng hạn như “quét hình toàn cơ thể bằng 1-131 để chẩn đoán” hoặc các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh khác đế biết liệu ung thư tuyến giáp đã lan tràn tới các vị trí xa của cơ thể chưa.

Ai có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp?

Không ai biết các nguyên nhân chính xác của ung thư tuyến giáp. Nhưng rõ ràng là ung thư tuyến giáp không lây. Các nghiên cứu vừa chứng minh rằng những người có một số yếu tố nguy cơ dẽ phát sinh ung thư tuyến giáp hơn những người khác. Yếu tố nguy cơ là một cái gì đó làm tăng cơ hội của một người phát sinh bệnh.

Những yếu tố nguy cơ dưới đây kết hợp với tăng cơ hội phát sinh ung thư tuyến giáp:
- Xạ trị.
Những người phơi nhiễm với các mức cao của tia xạ dễ bị phát sinh ung thư nhú hoặc nang tuyến giáp hơn những người khác.

- Một nguồn quan trọng của nhiễm xạ là điều trị bằng tia X
Giữa những năm 1920 và 1950, các bác sĩ sử dụng tia X liều cao để điều trị các trẻ em có amidan sưng to, mụn trứng cá và các vấn đẻ khác ảnh hướng đến vùng đầu và cổ. Sau này, các nhà khoa học đã tìm thấy rằng ở một số người được điều trị theo hình thức này phát sinh ung thư tuyến giáp. Các tia X được sử dụng để chẩn đoán thường quy như chụp phim X-quang răng, chụp phim lồng ngực sử dụng một liều rất nhỏ tia X. Lợi ích của nó thường vượt xa rất nhiều so với các nguy cơ.
Tuy nhiên, phơi nhiễm nhắc lại có thể có hại, vì vậy một ý tưởng tốt cho mọi người là hãy hỏi nha sĩ và bác sĩ của mình về yêu cầu cho mỗi lần chụp X- quang và đề nghị sử dụng các trường che (shield) bảo vệ các phần khác của cơ thể.


- Một nguồn bức xạ khác của cơ thể là bụi phóng xạ.
Nguồn bụi phóng xạ này có thể từ các vụ thử vũ khí hạt nhân (như các vụ thử vũ khí hạt nhân ở Mỹ và các nơi khác chú yếu trong những năm 1950 và 1960, tai nạn của nhà máy điện nguyên tử (như vụ nổ nhà máy điện nguyên tử ở Chernobyl năm 1986 ờ Liên xô cũ) hoặc bụi phóng xạ thoát ra từ nhà máy chế tạo vũ khí hạt nhân (như ở nhà máy Hanford ở bang Washington vào cuối những năm 1940. Các bụi phóng xạ này có chứa iod phóng xạ (1-131). Những người phơi nhiễm với một hay nhiều nguồn 1-131, đặc biệt, nếu là trẻ em vào thời điểm phơi nhiễm có thể tăng nguy cơ với bệnh tuyến giáp.

- Lịch sử gia đình.
Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tuỷ có thể gây nên do một biến đổi hoặc tổn hại trong một gene gọi 1à RET. Gene RET bị tổn hại có thể được truyền từ bô mẹ cho con. Hầu như mỗi người có gene RET bị tổn hại sẽ phát sinh ung thư tuyến giáp thể tuỷ. Một xét nghiệm máu có thể phát hiện được gene RET bị tổn hại. Nếu một gene RET bị tổn hại được phát hiện ở một người ung thư biểu mô tuý tuyến giáp, bác sĩ có thể gợi ý các thành viên trong gia đình xét nghiệm gene RET. Với những người có mang gene RET biến đổi, bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm thường xuyên hoặc phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp trước khi ung thư phát sinh. Khi ung thư tuyến giáp thể tuỷ xảy ra trong một gia đình, bác sĩ có thể gọi đây là “ung thư tuyến giáp thế tuỷ gia đình” hoặc “hội chứng nhiều u nội tiết” (hội chứng MEN). Những người có hội chứng MEN có xu hướng phát sinh một số loại ung thư khác.
Một số nhỏ những người có lịch sử gia đình mắc bệnh bướu giáp hoặc một số poe-lyp tiền ung thư ờ đại tràng có nguy cơ phát sinh ung thư tuyến giáp thổ tuỷ.

- Là phụ nữ. 
Tại Mỹ, phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp cao hơn nam giới từ 2 đến 3 lần.


- Tuổi
Hầu hết các bệnh nhân ung thư tuyến giáp ở tuổi trên 40. Những người với ung thư tuyến giáp mất biệt hoá thường trên 65 tuổi.

- Chủng tộc.
Tại Mỹ, những người Mỹ nguồn gốc châu Phi thường bị ung thư tuyến giáp nhiều hơn.

- Không đủ iod trong chế độ ăn
Tuyến giáp cần iod để sản xuất hormone của mình. Tại một số nước và ở Việt Nam iod được bổ sung vào muối để bảo vệ người dân khỏi bị bệnh tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp hình như ít phổ biến hơn ở những nước iod không là một phần của khấu phần ăn.

Nhiều người có các yếu tố nguy cơ đã biết không bị ung thư tuyến giáp. Trái lại nhiều người mắc ung thư tuyến giáp nhưng không có bất kỳ yếu tố nào trong các yếu tố nguy cơ này. Những người nghĩ rằng mình có nguy cơ phát sinh ung thư tuyến giáp có thể trình bày những băn khoăn của mình với bác sĩ. Bác sĩ có thể gợi ý các phương pháp đế làm giảm nguy cơ hoặc có thể lập các kế hoạch thích hợp để kiểm tra.

Những điều cần biết về ung thư tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến nằm ở cổ. Có hai loại tế bào sản xuất hormone. Các tế bào nang (các tế bào tạo thành các hình túi nhỏ hay còn gọi là nang tuyến) sản xuất hormone tuyến giáp, nó ảnh hưởng đến nhịp tim, nhiệt độ và mức năng lượng của cơ thể. Các tế bào c sản xuất calcitonin, một hormone giúp kiểm soát mức calci trong máu.
Tuyến giáp hình con bướm, nằm ở trước cổ, bên cạnh hộp thanh âm. Nó có hai phần hoặc hai thuỳ. Hai thuỳ phân cách nhau bởi một phần mỏng gọi là eo.


Tuyến giáp thường không thế sờ thấy qua da. Một thuỳ giáp sưng to có thể nhìn thấy hay sờ thấy như một cục ở trước cổ. Tuyến giáp sưng to được gọi là bướu giáp. Phần lớn các bướu giáp sinh ra do không đủ iod trong thức ăn. Iod là một chất tìm thấy trong loài giáp xác (sò, tôm, cua) và muối iod.
Các loại chính của ung thư tuyến giáp:
Ung thư biểu mô nhú và nang chiếm tới 80 đến 90% tất cả các ung thư tuyến giáp. Cả hai loại bắt nguồn từ các tế bào nang của tuyến giáp. Hầu hết các ung thư nhú và nang có xu hướng phát triển chậm. Nếu chúng được phát hiện sớm, hầu hết có thể được điều trị có hiệu quả.
Ung thư tuyến giáp thể tuỷ chiếm 5 đến 10% các trường hợp ung thư tuyến giáp. Nó phát sinh từ các tế bào c, không phải từ các tế bào nang. Ung thư tuyến giáp thể tuỷ có thể dễ dàng kiểm soát nếu nó được tìm thấy và điều trị trước khi nó lan tràn ra các phần khác của cơ thể.
Ung thư tuyến giáp mất biệt hoá là loại ung thư tuyến giáp ít phổ biến nhất (chỉ chiếm 1 - 2% các trường hợp). Nó phát sinh trong các tế bào nang. Các tế bào ung thư bất thường cao và khó nhận biết. Loại này của ung thư rất khó kiếm soát vì các tế bào ung thư có xu hướng phát triển và lan tràn rất nhanh.

Nếu ung thư tuyến giáp lan tràn (di căn) ra ngoài tuyến giáp, các tế bào ung thư được tìm thấy ở gần hạch bạch huyết, dây thần kinh hoặc các mạch máu. Nếu ung thư xâm nhập được vào các hạch bạch huyết, các tế bào ung thư cũng có thể lan tràn tới các hạch bạch huyết khác hoặc tới các cơ quan khác như phổi hoặc xương.

Khi ung thư lan tràn từ một vị trí nguồn gốc (ban đầu) tói một phần khác của cơ thể, u mới có các tế bào bất thường cùng loại và cùng tên với u nguyên phát. Ví dụ nếu ung thư tuyến giáp lan tràn tới phối, các tế bào ung thư ở phổi là tế bào ung thư tuyến giáp. Bệnh là ung thư tuyến giáp di căn, không phải là ung thư phổi. Nó được điều trị như một ung thư tuyến giáp, không phải như một ung thư phổi. Đôi khi các bác sĩ gọi u mới là “bệnh xa” hoặc bệnh di căn.

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Cách điều trị ung thư xương theo Đông và Tây y

Ung thư xương là một căn bệnh ung thư nguy hiểm hình thành trong xương, thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Nhiều yếu tố được xem xét để quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Đó là: loại, vị trí, kích thước, sự lan rộng, tuổi tác, tổng trạng. Một kế hoạch điều trị được vạch ra phù hợp với nhu cầu mỗi bệnh nhân.


Các phương pháp điều trị   
Phẫu thuật xạ tạ, hoá trị: Bác sĩ thường phối hợp phương pháp điều trị phụ thuộc sự cần thiết của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được giới thiệu đến những bác sĩ chuyên về điều trị các loại ung thư. Thường thường, các chuyên gia làm việc với nhau như một đội; gồm: phẫu thuật viên, chuyên gia ung thư ở nhi và chuyên gia xạ trị
Phẫu thuật là một phần của điều trị ung thư xương. Bởi vì, bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu, phẫu thuật viên lấy u và một phần xương lành và mô lành khác xung quanh u.
Khi ung thư xương ở một cánh tay hay chân, phẫu thuật viên cố gắng lấy u và một vùng mô lành xung quanh u. Thỉnh thoảng phẫu thuật viên có thể sử dụng một dụng cụ kim loại để thay thế phần xương bị lấy đi. Ở trẻ em, thay thế dụng cụ kim loại có thể kéo dài khi trẻ lớn. Cách thức bảo tồn chi này cần nhiều lần phẫu thuật để giữ sự kéo dài chi nhân tạo.
Tuy nhiên, khi u lớn có lẽ đoạn chi là cần thiết.
Nếu đoạn chi thì cần làm chi giả: chân, cánh tay, bàn tay, bàn chân.
Hoá trị là dùng thuốc giết tế bào ung thư. Thường phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu. Thuốc theo dòng máu đi khắp cơ thể. Hoá trị được tiến hành nhiều đợt: sau một đợt điều trị là một khoảng thời gian hồi phục, tiếp sau đó là một điều trị mới và tiếp tục nhiều đợt.
Một số bệnh nhân điều trị hoá trị ngoại trú bệnh viện, dưỡng đường, hay phòng khám tại nhà của bác sĩ. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc điều trị bệnh nhân cần phải ở trong bệnh viện một thời gian ngắn.


Hoá trị luôn phối hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hoá trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật. Hoá trị còn là một điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật để diệt hết những tế bào ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể và phòng ngừa tái phát. Có khi bệnh nhân được hoá trị trước và sau phẫu thuật. Đối với vài loại ung thư xương hoá trị phối hợp với xạ trị. Hoá trị có thể được dùng để kiếm soát ung thư xương có di căn.
Xạ trị là dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Vài trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.
Bệnh nhân cần phải đến bệnh viện hay dưỡng đường mỗi ngày để xạ trị. Thường điều trị 5 ngày một tuần, trong 5 đến 8 tuần.


Các bài thuốc Đông y hỗ trợ điều trị ung thư xương:
Bên cạnh tây y, Đông y cũng có những bài thuốc hay giúp hỗ trợ điều trị ung thư xương mà bạn có thể tham khảo áp dụng để đem lại kết quả điều trị tốt chất.
- Bài thuốc 1:

Thụcđịa, kê huyết đằng: 15g mỗi vị
Đẳngsâm, hoàng kỳ: 12g mỗi vị
Đại miết trùng, từ trường liễu, bạch hoa xà thiệt thảo, đương quy: 10g mỗi vị
Ngũ hương: 9g
Lộ phong phòng, chích cam thảo: 6g
Ngô công: 3g
Sắc uống ngày một thang.


- Bài thuốc 2:

Mẫu lệ: 30g
Xuyên đoạn, đan sâm, đẳng sâm, cẩu tích, hoàng kỳ, hạ khô thảo, hải tảo, tang ký sinh: 12g mỗi vị
Bột địa long, lưu hành tử, đương quy, bạch truật: 9g mỗi vị
Mộc hương: 6g
Bột toàn yết: 5g
Sắc uống ngày một thang.
- Bài thuốc 3:

Bồ công anh, liên kiều,  ngân hoa, hoàng kỳ: 30g mỗi vị
Hải tảo, côn bố, đẳng sâm, đương quy: 15g mỗi vị
Bán hạ, trần bì, uất kim: 9g mỗi vị
Xuyên luyện tử: 5g
Sắc uống ngày một thang.

Tìm hiểu chung về căn bệnh ung thư xương

Ung thư xương là gì?
Ung thư mà bắt đầu từ xương gọi là ung thư xương nguyên phát. Ung thư xương thường thấy nhất ở cánh tay và chân, nhưng có thể xảy ra ở mọi xương trong cơ thể. Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.
Ung thư xương nguyên phát được gọi là sarcoma. Có nhiều loại sarcoma, mỗi thể bắt đầu từ một loại mô xương khác nhau. Thường thấy nhất là: sarcoma xương, Ewings sarcoma, và sarcoma sụn.


Sarcoma xương là loại thường thấy nhất của ung thư xương ở thiếu niên. Bệnh thường xuất hiện khoảng từ 10 đến 25 tuổi. Nam mắc bệnh nhiêu hơn nữ. Sarcoma xương thường xuất hiện ở đầu xương, nơi đó mô xương mới được hình thành ở tuổi thiếu niên. Sarcoma xương ảnh hưởng chủ yếu xương dài của cánh tay và chân.
Ewings sarcoma thường thấy khoảng 10-25 tuổi. Thiếu niên bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ung thư này hình thành ở phần giữa (thân xương) của những xương lớn. Xương bị ảnh hưởng nhiều nhất là xương hông và xương dài ở đùi, tay. Ung thư này có thể xảy ra ở xương sườn.
Sarcoma sụn chủ yếu ở người lớn. Loại u này hình thành trong sụn (mô mềm dẻo xung quanh khớp).
Những loại ung thư xương khác bao gồm: sarcoma sợi, u tế bào khổng lồ ác tính, u sụn. Những người trên 30 tuổi hiếm khi mắc những loại này.
Ung thư xương nguyên phát thì hiếm. Mặt khác, ung thư xương thường do di căn từ các cơ quan khác. Khi điều này xảy ra, bệnh không được gọi là ung thư xương. Mỗi loại ung thư được đặt tên theo cơ quan hoặc mô bị ung thư nguyên phát. Điều trị ung thư xương thứ phát phụ thuộc vào loại ung thư nguyên phát và sự di căn của nó.
Ung thư bắt đầu từ cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu, và những mô liên kết hay nâng đỡ khác trong có thể gọi là sarcoma mô mềm. Bệnh xảy ra ờ người lớn và trẻ em. Nhưng không bàn luận ở đây.
Leukemia, đa u tuỷ, và u lympho là ung thư bắt nguồn từ tế bào ở tuỷ xương. Đây là những bệnh khác nhau và không phải là ung thư xương.

Triệu chứng của ung thư xương?
Triệu chứng ung thư xương có khuynh hướng phát triển chậm. Phụ thuộc vào loại, vị trí, kích thước u.
Đau là triệu chứng thường thấy nhất của ung thư xương. Thỉnh thoảng là một u mềm, hơi đau trên xương có thể cảm giác được qua da. Vài trường hợp ung thư xương cản trở hoạt động bình thường. Ung thư xương có thể gây gãy xương.
Những triệu chứng trên không chắc là ung thư, nó có thể do nguyên nhân khác ít trầm trọng hơn. Ai gặp phải triệu chứng này nên tham vấn bác sĩ.


Chẩn đoán ung thư xương như thế nào?
Để chẩn đoán ung thư xương, bác sĩ sẽ hỏi tiền sử của bản thân và gia đình, và khám lâm sàng toàn diện. Ngoài ra còn kiểm tra tổng trạng, xét nghiệm máu, chụp X-quang. X-quang có thể cho thấy vị trí, kích thước và hình dạng u: u lành thường tròn, bờ rõ; ung thư xương thường có nhiều hình dạng và bờ không đều.
Nếu X-quang thấy nghi ngờ ung thư xương, một số xét nghiệm chuyên biệt sau có thể được làm. Những xét nghiệm này còn cho biết ung thư xương di căn hay chưa.
Xạ hình xương cho thấy kích thước, hình dạng, và VỊ trí của vùng bất thường trên xương. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào máu. Xương hấp thu chất này và được phát hiện bởi một dụng cụ đặc biệt gọi là scan.
CT scan hay CAT scan là kỹ thuật X-quang cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang của CT, nhờ một máy vi tính.


MRI (hình ảnh cộng hưởng từ) cũng cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang. MRI sử dụng từ trường rất mạnh liên kết với máy vi tính.
Chụp mạch máu là chụp X-quang mạch máu. Chất cản quang được tiêm vào mạch máu vì vậy thấy chi tiết mạch máu, xét nghiệm này cũng được làm để giúp ích kế hoạch phẫu thuật.
Sinh thiết là cách chắc chắn để nói có ung thư hay không. Sinh thiết tốt nhất nên làm ở bệnh viện noi có các bác sĩ kinh nghiệm về chẩn đoán ung thư xương. Bác sĩ lấy một mẫu mô từ u xương. Chuyên viên giải phẫu bệnh xem mẫu đó dưới kính hiển vi, nếu thấy ung thư thì anh ta có thể cho biết loại sarcoma và khả năng phát triển nhanh hay chậm.

Nếu đã chẩn đoán ung thư xương thì điều quan trọng cần xác định là nguyên phát hay thứ phát. Dữ kiện này rất quan trọng trong điều trị. Kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm, X-quang, chụp cắt lớp (scan), và sinh thiết được sử dụng để phân chia ung thư. Giai đoạn ung thư xác định ung thư đã di căn hay chưa và bao nhiêu mô bì ảnh hưởng.

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Ung thư biểu mô tế bào thận - Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Ung thư biểu mô tế bào thận là một loại ung thư xảy ra ở thận. Các tế bào ung thư được tìm thấy ở tấm đệm của các đường ống nhỏ (tubules) trong thận. Nó là loại ung thư thận phổ biến nhất ở người lớn.

Nguyên nhân, tỉ lệ mắc và các yếu tố có tính nguy cơ
Ung thư biểu mô tế bào thận ảnh hưởng khoảng 3 trên 10.000 người, dẫn đến 32.000 trường hợp mắc mới ở Mỹ hàng năm. Mỗi năm, khoảng 12.000 người ở Mỹ chết vì ung thư biểu mô tế bào thận. Xảy ra phổ biến nhất ở những ở tuổi 50-70, và điển hình ảnh hưởng ở nam giới. Nguyên nhân chính xác chưa được biết.
Những nhân tố có tính nguy cơ:
- Hút thuốc.
- Di truyền.
- Lịch sử có bệnh của gia đình.
- Điều trị thấm tách (lọc máu ngoài thận).
- Bệnh Hippel-Lindau, một bệnh di truyền ảnh hưởng đến các capillariest của não.
Triệu chứng đầu tiên thường là có máu trong nước tiểu. Đôi khi có liên quan đến cả hai thận. Ung thư lan rộng một cách dễ dàng, phần lớn thường tới phổi và các cơ quan nội tạng khác. Khoảng một phần 3 bệnh nhân có sự lan rộng (di căn) tại thời điểm chuẩn đoán.
Các triệu chứng
- Có máu trong nước tiểu.
- Màu nước tiểu khác thường (sẫm, hay nâu, vàng).
- Đau ở sườn.
- Đau lưng.
- Đau vùng bụng.
- Giảm cân không chủ định nhiều hơn 5% trọng lượng cơ thể.
- Sự lớn lên của một tinh hoàn.
- Sưng hay phù ở bụng.
- Các triệu chứng phụ mà có thể có liên quan đến bệnh này:
- Các bệnh lý về mắt.
- Xanh xao.
- Sự tăng trưởng tóc quá mức ở phụ nữ.
- Táo bón.
- Chịu lạnh kém.


Các dấu hiệu và các xét nghiệm
Bắt mạch vùng bụng có thể chỉ ra một khối lớn lên của nội tạng, đặc biệt là ở thận hay gan. Có thể có các mạch máu quấn dọc theo sự lớn lên của dây tinh hoàn ở đàn ông.
* Các xét nghiệm:
Đếm máu toàn phần (gồm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu). Xét nghiệm nước tiểu có thể cho thấy các tế bào hồng cầu trong đó:
- Canxi huyết thanh có thể cao.
- SGPT và alkaline phốt phát có thể cao.
- Xét nghiệm tế bào nước tiểu.
- Các xét nghiệm chức năng gan.
- Siêu âm bụng và thận.
- X-quang thận.
- Xét nghiệm IVP.
- Chụp mạch thận.
Các xét nghiệm sau đây có thể được thực hiện để xem liệu có sự lan rộng của ung thư hay không: CT vùng bụng có thể cho thấy một khối gan; chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể quyết định liệu ung thư đã lan tới các mạch máu xung quanh chưa; X-quang ngực có thể thấy một khối ở ngực; Scan xương có thể cho thấy sự liên quan của xương.
Phẫu thuật cắt tất cả phần bị ung thư của thận (nephrectomy) sẽ được đề nghị. Điều này có thể bao gồm cả cắt bỏ bàng quang hay các mô xung quanh hay các hạt lympho.
Liệu pháp xạ trị không thường có tác dụng đối với ung thư biểu mô tế bào thận và, do đó, không thường được sử dụng. Các liệu pháp hormone có thể giảm sự tăng trưởng của khối u ở một số trường hợp.

Các thuốc như alpha-interferon và interleukin đã làm giảm thành công sự tăng trưởng của một số trường hợp ung thư biểu mô tế bào thận, bao gồm cả một số đã lan rộng. Bỏ thuốc lá. Làm theo các yêu cầu của chuyên gia về y tế của bạn trong điều trị các rối loạn về thận, đặc biệt các rối loạn mà yêu cầu lọc máu ngoài thận.


Bên cạnh các phương pháp điều trị này, việc sử dụng các loại thảo dược có khả năng phòng và kháng ung thư như xáo tam phân, nấm lim xanh, xạ đen, ... cũng là một cách tốt để giúp hỗ trợ điều trị ung thư, tăng cường và phục hồi sức khoẻ trong và sau thời gian điều trị.

Tìm hiểu về căn bệnh ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung thường gặp 70% ở phụ nữ sau mãn kinh, 25% tiền mãn kinh và 5% trong độ tuổi sinh đẻ. Tại Việt Nam, ung thư nội mạc tử cung có tỷ lệ mắc là 2,5/100.000 dân, tỷ lệ tử vong là 0,9/100.000 dân, đứng hàng thứ 12 trong các loại ung thư ở nữ giới.

Tử cung là một tạng rỗng, thân tử cung được cấu tạo chính bởi 2 lớp: trong cùng được lót một lớp mỏng gọi là nội mạc tử cung, phía ngoài là lớp cơ. Ung thư nội mạc tử cung là bệnh mà các tế bào của lớp nội mạc tử cung bị biến đổi ác tính thành tế bào ung thư. Các tế bào ung thư phát triển tạo thành khối u tại chỗ sau đó xâm lấn rộng, phá vỡ các tổ chức xung quanh và cuối cùng theo đường máu hoặc bạch huyết các tế bào ung thư này sẽ di căn đến hạch bạch huyết hoặc các cơ quan ở xa khác như phối, gan, não, xương...

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Tuổi ung thư nội mạc tử cung gặp chủ yếu ở phụ nữ sau mãn kinh (75%), đa số trong khoáng 55- 60 tuổi, khoảng 5% xuất hiện ở tuổi dưới 40; mất cân bằng estrogen ở những người có vòng kinh không phóng noãn; điều trị nội tiết thay thế bằng estrogen; những người có kinh sớm (trước 12 tuổi) và mãn kinh muộn (sau 50 tuổi); không sinh con; béo phì; chế độ ăn nhiều mỡ động vật; mắc bệnh tăng huyết áp; đái tháo đường; mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng; dùng thuốc tamoxifen điều trị ung thư vú... 
Các yếu tố có tác dụng phòng bệnh đó là điều chính chế độ ăn uống (tăng cường rau quả, giảm chất béo động vật), duy trì cân nặng hợp lý, dùng thuốc tránh thai hay thuốc nội tiết thay thế có progestin có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh này.

Triệu chứng thường gặp
- Ở phụ nữ đã mãn kinh: Chảy máu, chảy dịch hoặc máu lẫn dịch bất thường ở âm đạo. Chảy máu lúc đầu ở dạng loãng, có các vệt máu, sau đó lượng máu tăng dần lên.
- Ở phụ nữ chưa mãn kinh: Chảy máu ngoài chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau quan hệ tình dục.
Khi có các dấu hiệu bất thường trên, người bệnh cần phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa để khám xét tỉ mỉ và làm các xét nghiệm cần thiết giúp chẩn đoán được bệnh từ giai đoạn sớm.
Bệnh ở giai đoạn muộn, các triệu chứng có thể gặp như đau bụng, đái ra máu hoặc bí đái do khối u chèn ép, xâm lấn vào bàng quang, hoặc có khi đi ngoài ra máu hoặc không đi ngoài được do khối u chèn ép, xâm lấn vào trực tràng phía sau. 


Về toàn trạng, bệnh nhân có thể có các biểu hiện mệt mỏi, thiếu máu, gầy sút cân, đặc biệt có những bệnh nhân để bệnh quá muộn, khi đến viện bệnh đã ở giai đoạn cuối, di căn nhiều nơi, việc chữa trị rất khó khăn, tốn kém và ít hiệu quả. Vì vậy nhận biết được các dấu hiệu sớm của bệnh, chị em nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Khi đến khám bệnh, bệnh nhân có thể cần làm một số xét nghiệm như: nạo buồng tử cung lấy bệnh phẩm làm tế bào học và giải phẫu bệnh học giúp chẩn đoán bệnh một cách chắc chắn, ngoài ra cần khám và làm một số xét nghiệm: chụp buồng tử cung vòi trứng, siêu âm, soi buồng tử cung, chụp hệ tiết niệu, soi bàng quang, trực tràng khi nghi ngờ có xâm lấn tới hai cơ quan này; chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ giúp chẩn đoán mức độ lan rộng của bệnh.

Các giai đoạn của bệnh:
Giai đoạn I: U phát triển giới hạn ở thân tử cung.
Giai đoạn II: U xâm lấn lan rộng đến cổ tử cung nhưng chưa lan ra khỏi tử cung.
Giai đoạn III: U lan ra ngoài tử cung nhưng còn khu trú trong khung chậu.
Giai đoạn IV: Đã có di căn xa.

Ở giai đoạn càng sớm thì tỷ lệ chữa khỏi càng cao, đó còn là cơ sở quan trọng giúp cho các bác sĩ lựa chọn các phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.
Phương pháp điều trị bệnh ung thư nội mạc tử cung: Bao gồm phẫu thuật, tia xạ, hoá chất và nội tiết.
Điều trị bằng phẫu thuật là phương pháp quan trọng nhất, được áp dụng cho phần lớn các bệnh nhân ở giai đoạn sớm (giai đoạn I, II). Ở giai đoạn muộn hơn, khi khối u đã lan rộng, việc phẫu thuật triệt căn gặp nhiều khó khăn và có nhiều biến chứng, do vậy điều trị chú yếu ở giai đoạn này là tia xạ và hoá chất.

Điều trị nội tiết được áp dụng cho những trường hợp khối u phát triển phụ thuộc vào nội tiết. Sau khi kết thúc điều trị các bệnh nhân cần được theo dõi sát bằng khám định kỳ bao gồm khám lâm sàng, siêu âm, chụp phổi,... 3 tháng một lần trong 2 năm đầu, 6 tháng một lần trong các năm tiếp theo để kịp thời phát hiện tái phát hoặc di căn nếu có.