Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Các nhóm thuốc chống ung thư: nhóm hooc môn và các nhóm khác

Các loại thuốc chống ung thư thường tiêu hủy hoặc ngăn cản tế bào ung thư không cho nó lan rộng ra nhằm mục đích chữa khỏi bệnh, kéo dài cuộc sống hay làm giảm đi các triệu chứng. 
Bên cạnh nhóm thuốc chống ung thư gây độc tế bào thì còn có một số nhóm thuốc chống ung thư khác.


Nhóm hooc môn và đối kháng hóc môn
Điều trị bệnh bằng hooc môn cũng tỏ ra rất hiệu quả đối với một số loại ung thư do ảnh hưởng của một số loại hooc môn. 
Phương pháp này cũng được dùng điều trị sau khi phẫu thuật hay xạ trị để ngăn ngừa các tế bào ung thư còn xót lại phát triển và lan rộng. Thuốc đôi khi cũng có tác dụng chặn đứng sự phát triển của các tế bào ung thư; ví dụ như megestrol tác dụng làm chậm đi sự phát triển của bệnh ung thư tử cung.
Ngoài ra loại thuốc đối kháng hoóc-môn có thể được dùng để điều trị một số dạng ung thư do tính kích thích của hoóc-môn gây ra. 


Ví dụ như thuốc tanoxifen rất có hiệu quả trong việc chặn đứng sự phát triển của một số dạng ung thư vú do khích thích bởi oestrogen, một loại hoóc-môn sinh dục nữ. Thuốc có tác dụng phong bế tác động của loại hoóc-môn oestrogen lên các tế bào vú. 
Sự phát triển lan rộng của các tế bào ung thư ở tiền liệt tuyến có thể bị chậm lại khi dùng thuốc goserelin, có tác dụng phong bế sự tiết ra chất testosterone, một loại kích thích tố sinh dục nam
Các loại thuốc hoóc-môn thường được dùng qua đường miệng và đôi khi việc điều trị có thể phải kéo dài đến vài năm. Hầu hết các loại thuốc này có phản ứng thuốc nhẹ hơn các loại thuốc gây độc tế bào. 
Dù sao, khi được điều trị bằng tamoxifen sẽ bị gia tăng nhẹ nguy cơ phát triển ung thư tử cung, bạn cần phải báo cho bác sĩ biết ngay nếu có trường hợp chảy máu bất thường ở vùng âm đạo.
Các loại thuốc chữa ung thư khác
Nhóm thuốc có tác dụng chữa ung thư này bao gồm interfon alfa (xem loai thuốc protein interferon) và aldesleukin, thuốc thường được dùng để trị bệnh bướu Kaposiy một loại ung thư da có liên quan đến bệnh AIDS. 

Aldesleukin còn được dùng để điều trị một số dạng bệnh khối u lympho, bệnh bạch cầu và ung thư thận giai đoạn đầu. Thuốc có tác dụng tiêu diệt các tế bào ung thư hay kích thích hệ miễn nhiễm chống lại chúng. 
Rituximab là một loại kháng thể đơn dòng có thể dùng như một loại thuốc trị bệnh ung thư cũng như loại thuốc có tác dụng làm suy giảm hệ miễn nhiễm.

Tác dụng phụ phổ biến nhất của loại thuốc interferon là buồn nôn và các triệu chứng giống như là bệnh cúm. Aldesleukin có thể gây ra thở ngắn và hoa mắt , đôi khi cũng có ảnh hưởng đến chức năng của các bộ phận khác như gan và thận. Rituximab có thể gây ra những cơn ớn lạnh và sốt, nôn mửa và các phản ứng dị ứng như phát ban.
Xem thêm:

👉Bên cạnh các loại thuốc có nguồn gốc hoá dược, để phòng chống ung thư nhiều người còn tìm đến các loại thảo dược thiên nhiên vừa an toàn, lành tính, không gây tác dụng phụ nhưng vẫn rất hiệu quả.

Một số loại thảo dược có tác dụng phòng chống và hỗ trợ điều trị ung thư hiệu quả có thể kể đến như xáo tam phân, nấm lim xanh, lá mãng cầu xiêm,bán chi liên và bạch hoa xà thiệt thảo, ...

Các nhóm thuốc chống ung thư: Nhóm thuốc gây độc tế bào

Có nhiều loại thuốc có tác dụng gây độc tế bào, nhằm tiêu diệt hay ngăn ngừa các tế bào ung thư không cho nó gia tăng về số lượng. 


Các tác dụng của thuốc
Thuốc có thể tác động trực tiếp lên chất liệu gien của tế bào, ADN, hay ngăn các các tế bào không thể hấp thu dưỡng chất để nhân đôi lên như bình thường. Tác dụng của thuốc tập trung lên một vùng các mô mà ở đó các tế bào phân chia rất nhanh, cho nên rất có hiệu quả trong việc điều trị các bệnh ung thư tiến triển nhanh ví dụ như ung thư bạch cầu hay ung thư tinh hoàn. 
Loại thuốc methotrexate cũng còn dùng để điều trị bệnh vẩy nến. Thuốc gây độc tế bào thường được điều trị tại bệnh viện, dùng thuốc theo từng đợt ngắn trong vòng vài tuần lễ, giai đoạn nghỉ không dùng thuốc là để các tế bào khỏe mạnh có cơ hội phục hồi.
Các tác dụng phụ của thuốc
Thuốc gây độc tế bào có thể gây ra các phản ứng phụ rất nghiêm trọng bởi vì nó gây tác động đến các vùng mà tế bào được phân chia nhanh như tủy, nang tóc, vùng miệng và vùng ruột non. 
Nếu tủy xương bị tổn thương thì có thể làm giảm các tế bào bạch cầu, hồng cầu và tiểu huyết cầu trong máu. 

Một số loại thuốc có thể gây ra tình trạng thiếu acid folic. Các tình trạng này có thể dẫn đến chứng thiếu máu, dễ bị nhiễm trùng và giảm khả năng đông máu. 
Thuốc gây độc tế bào có thể gây ra các cơn buồn nôn và nôn mửa, đôi  khi rất nghiêm trọng. Ngoài ra thuốc còn có thể gây ra chứng loét miệng và rụng tóc.
Các phản ứng phụ nghiệm trọng có thể giảm đi khi được điều trị bổ sung với các loại thuốc khác. Ví dụ, antiemetic có thể được dùng thêm nếu bệnh nhân có triệu chứng buồn nôn và nôn mửa. 
Hầu hết các tác dụng phụ đều là tạm thời  và không có tác dụng gây tổn thương lâu dài. Có một số loại thuốc gây độc tế bào có tác dụng gây tổn thương đến buồng trứng gây ra mãn kinh sớm, hay tác động đến tinh hoàn làm cho giảm khả năng sinh sản ra tinh trùng. 
Những lưu ý khi dùng nhóm thuốc gây độc tế bào
Những người đàn ông muốn có con sau này thì cần phải lưu trữ đông lạnh trước khi bắt đầu điều trị, còn đối với phụ nữ thì cần phải thu thập các mô buồng trứng hay trứng trước khi điều trị.

Nếu bạn có sử dụng thuốc gây độc tế bào thì cần phải thử máu thường xuyên, bào gồm cả việc đếm các tế bào hồng cầu và đo các thành phần của máu trước mỗi tiến trình điều trị.
Bạn cần báo cho bác sĩ ngay khi thấy có xuất hiện các triệu chứng lạ, ví dụ như đau họng, bởi vì dấu hiệu này thường báo hiệu số lượng bạch cầu thấp.

Tìm hiểu chung về thuốc chống ung thư

Ung thư là một nhóm bệnh rất rộng, nó do nguyên nhân một số tế bào trong cơ thể biến dạng và nhân đôi một cách khác thường và ảnh hưởng đến chức năng của các mô xung quanh. Các tế bào ung thư có thể khởi đầu từ một có quan sau đó lan rộng đến các bộ phận khác theo dòng máu.


Tác dụng của thuốc chống ung thư
Các loại thuốc chữa ung thư thường tiêu hủy hoặc ngăn cản tế bào ung thư không cho nó lan rộng ra. Khi điều trị bằng các loại thuốc này, được gọi là hóa liệu, thì cần phải được theo dõi bởi các bác sĩ chuyên khoaung thư, là những người được đào tạo chuyên môn để theo dõi và điều trị ung thư.
Các loại thuốc này có thể nhằm mục đích chữa khỏi bệnh, kéo dài cuộc sống hay làm giảm đi các triệu chứng. 
Trong một số trường hợp, hóa trị được dùng để liên kết cùng với phẫu thuật và xạ trị. 


Thuốc chữa ung thư có thể được dùng để làm co khối u lại trước khi dùng phương pháp trị liệu khác hay được dùng sau khi phẫu thuật, xạ trị để ngăn ngừa sự phát triển của các tế bào ung thư không cho lan rộng ra các nơi khác.
Các loại thuốc như thế nào?

Các loại thuốc chuyên dùng để điều trị các ung thư là nhóm gây độc tế bào, thường có tác dụng gây tổn thương và phá hủy các tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh trong cơ thể. 

Một số loại hoc môn như medroxyprogesterone và megestrol, là các hoc môn sinh dục nữ, được dùng để điều trị một số bệnh ung thư, hay các hocmoon đối khác có tác dụng phong bế tác dụng của các hoocmon gây kích thích ung thư. 
Các loại thuốc giả lập các thành phần của hệ miễn cũng có khi được sử dụng.
Bên cạnh các loại thuốc có nguồn gốc hoá dược, để phòng chống ung thư nhiều người còn tìm đến các loại thảo dược thiên nhiên vừa an toàn, lành tính, không gây tác dụng phụ nhưng vẫn rất hiệu quả.

Một số loại thảo dược có tác dụng phòng chống và hỗ trợ điều trị ung thư hiệu quả có thể kể đến như xáo tam phân, nấm lim xanh, lá mãng cầu xiêm,bán chi liên và bạch hoa xà thiệt thảo, ...

Tìm hiểu về thuốc chống virus, chống ung thư

Interferon là một nhóm các protein được tạo ra một các tự nhiên trong cơ thể mỗi khi có tình trạng nhiễm virus. Việc tổng hợp các chất giống như các loại protein này có thể dùng làm thuốc chữa được nhiều bệnh. 

Có hai loại interferon tổng hợp: interferon alfa và interferon beta, mỗi loại có cấu trúc hóa học khác nhau và công dụng cũng khác nhau.
Interferon alfa là thuốc dùng để điều trị các bệnh nhiễm vi rút như viêm gan siêu vi B hay C. Thuốc cũng được dùng để điều trị một số dạng ung thư. Interferon beta có tác dụng làm giảm các cơn tác phát thường xuyên và trầm trọng của các chứng xơ cứng phức tạp, mặc dù hiệu quả chữa khỏi bệnh không được hoàn toàn.
Thuốc có tác dụng như thế nào?
Interferon tác động lên các tế bào từ đó kích hoạt đáp ứng của hệ miễn nhiễm. Tác động chính của nó là gia tăng hoạt động của các tế bào bạch cầu, một thành phần chủ yếu của hệ miễn nhiễm. 
Interferon cũng có tác dụng làm chậm đi qua trình nhân đôi của các tế bào ung thư có tác dụng ngăn ngừa sự tái tạo của một số loại vi rút, ví dụ như virut viêm gan, virut nhiễm tế bào.
Interferon hầu hết được dùng dưới dạng thuốc chích và bệnh nhân có thể tự thực hiện được,bác sĩ hoặc y tá chỉ cần hướng dẫn bệnh nhân thao tác.
Tác dụng phụ của thuốc như thế nào?

 Hầu hết tác dụng phụ của thuốc là gây triệu chứng giống như cúm, trong đó bạn bị sốt, đau cơ và nhức đầu. 

Những phản ứng phụ khác là buồn nôn, mệt và buồn chán. Đôi khi bị đỏ và sưng tấy lên tại vùng tiêm. 
Thuốc cũng có thể gây ra tổn hại cho gan và thận. 
Trong thời gian sử dụng thuốc nên xét nghiệm máu và nước tiểu thường xuyên để kiểm tra tình hình chung tình trạng của cơ thể.
Bên cạnh các loại thuốc có nguồn gốc hoá dược, để phòng chống ung thư nhiều người còn tìm đến các loại thảo dược thiên nhiên vừa an toàn, lành tính, không gây tác dụng phụ nhưng vẫn rất hiệu quả.

Một số loại thảo dược có tác dụng phòng chống và hỗ trợ điều trị ung thư hiệu quả có thể kể đến như xáo tam phân, nấm lim xanh, lá mãng cầu xiêm, bán chi liên và bạch hoa xà thiệt thảo, ...

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Phương pháp chăm sóc và hỗ trợ điều trị ung thư

Bên cạnh các phương pháp chữa trị ung thư thì việc chăm sóc và hỗ trợ điều trị ung thư cũng là một vấn đề quan trọng mà bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cần đặc biệt quan tâm.

Một chẩn đoán ung thư và các phương pháp và quá trình điều trị ung thư có thể gây cho bệnh nhân những căng thẳng, mệt mỏi và sợ hãi. Mục đích của việc chăm sóc hỗ trợ là để làm cho cuộc sống tiếp tục càng bình thường càng tốt. 

Bạn sẽ được giảm nhẹ bớt những triệu chứng của ung thư như là đau đớn hay các tác dụng phụ do việc điều trị ung thư như là ói mửa cũng sẽ được xử lý. Bạn và gia đình bạn có thể được hỗ trợ về mặt tâm lý và được nhận lời khuyền từ đội ngũ y khoa mà liên quan đến việc điều trị của bạn. Những chuyên gia này sẽ giúp bạn hiểu và đương đầu với những chẩn đoán và việc điều trị ung thư. Bạn có thể sẽ mong muốn gặp một nhà tư vấn để có được những lời khuyên và những hỗ trợ tâm lý. 
Những hỗ trợ như vậy có thể làm tăng cường cảm giác khỏe mạnh, lòng tự trọng, mà có thể đặc biệt ảnh hưởng nếu việc điều trị gây ra những thay đổi về thể chất một cách rõ ràng như mất một vú hoặc rụng tóc. Nghiên cứu cho thấy rằng với thái đọ tinh thần tích cực người ta sẽ sống lâu hơn là những người mà đơn giản chỉ biết cam chịu bệnh tật.

Việc chia sẻ những khó khăn với những người đã có kinh nghiệm cá nhân tương tự có thể làm cho bạn yên tâm, và bạn có thể gia nhập vào một nhóm hỗ trợ cho những người bị ung thư và gia đình của họ.
Đây là một phương pháp hỗ trợ điều trị rất quan trọng, nếu các phương pháp chỉ hướng đến vấn đề thể chất, làm sao để loại bỏ hoặc hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư thì phương pháp này lại đi vào vấn lý của người bệnh. Do vậy phương pháp chăm sóc và hỗ trợ cần được áp dụng đồng thời với các phương pháp điều trị ung thư khác thì sẽ đem lại hiệu quả điều trị tốt.
Xem thêm:

Ngoài các phương pháp điều trị theo y học hiện đại thì trong Đông y và dân gian cũng có những bài thuốc từ các loại thảo dược thiên nhiên giúp hỗ trợ điều trị ung thư rất hiệu quả.



Các thảo dược lành tính có đang được nhiều bệnh nhân sử dụng để hỗ trợ điều tri ung thư đem lại hiệu quả tốt có thể kể đên như: rễ bồ công anh, xáo tam phân, nấm lim xanh, bạch hoa xà và bán liên chi, ...

Các phương pháp điều trị ung thư: Các liệu pháp điều trị khác

Tùy thuộc vào loại và giai đoạn của ung thư, mà việc điều trị có thể nhắm vào việc cứu chữa ung thư, hay là dùng thuốc tạm trị theo đó mà sẽ có những phương pháp điều trị thích hợp.
Ngoài ba kỹ thuật chính thường được dùng để chữa trị ung thư là phẫu thuật, hóa liệu và bức xạ liệu pháp thì vẫn còn những cách chữa trị khác bao gồm các liệu pháp sinh học và liệu pháp hóoc môn.
Hãy cùng tìm hiểu về các liệu pháp này nhé!
Các liệu pháp hóc môn
Một số loại hóc môn có ảnh hưởng đến sự phát triển và sự sao chép của tế bào của một số bệnh ung thư. Ví dụ, hoóc môn oestrogen giới nữ được biết là làm kích thích sự tăng trưởng của nhiều bệnh ung thư vú nhất và cũng ngăn chặn phát triển của bênh ung thư tuyến tiền liệt. Việc điều trị bằng các hoóc môn sinh dục góp phần vào việc kiểm soát các loại ung thư này.

Các liệu pháp sinh học
Các dạng điều trị mới hơn này hiện nay đang được điều tra nghiên cứu và chưa được sử dụng cho hầu hết các bệnh ung thư. Các liệu pháp sinh học có thể liên quan đến việc uống thuốc còn gọi là “những vacxin ung thư” để kích thích hệ miễn dịch vốn là cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể. Ví dụ, những chất như là interferon, mà làm sản sinh ra một loại tế bào bạch huyết để tấn công các tế bào bất thường, loại chất này có thể được sản xuất nhân tạo dưới dạng thuốc interferon. Bạn cũng có thể dùng những loại thuốc tổng hợp để tạo ra các kháng thể (là những protein nhận diện được và tấn công các tế bào bên ngoài hoặc các phần tử bên trong cơ thể) cung cấp một chất phóng xạ hoặc thuốc chống ung thư trực tiếp cho một ung thư.

Hai liệu pháp thực nghiệm nhiều hứa hẹn là liệu pháp gen và ức chế tạo mạch. Liệu pháp gen liên quan đến việc đưa một gen và trong chất liệu di truyền của các tế bào ung thư bằng cách sử một virus. Gen mới chịu trách nhiệm sản xuất ra một chất tự nhiên có thể giúp phá hủy các tế bào ung thư. Các thực nghiệm dùng các loài động vật đã cho thấy cách tiếp cânh này có thể làm co lại các bướu nhỏ. Trong  ức chế tạo mạch, các thuốc được đưa vào để làm dừng sự tăng trưởng của các mạch máu mới mà cho phép một bướu tiếp tục phát triển, Khi không cung cấp đủ oxy và các chất dinh dưỡng, bướu sẽ co rút lại.
Liệu pháp sinh học hiện được sử dụng thành công để chữa trị bệnh ung thư thận, khối u ác tính và một số loại u lymphô và bệnh ung thư bạch cầu. Những cách điều trị này có thể gây ra tác dụng phụ như là sổt, đau các cơ, ói mửa và mệt mỏi.
Xem thêm:

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Các phương pháp điều trị ung thư: Bức xạ liệu pháp

Mặc dù bệnh ung thư có thể phát triển ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể, nhưng những nguyên tắc điều trị là giống nhau. Những khả năng có thể cứu chữa được một bệnh ung thư là cao nhất nếu được phát hiện bằng cách sàng lọc ở giai đoạn đầu một cách đầy đủ trước khi nó gây ra các triệu chứng, cùng những phương pháp điều trị phù hợp.

Ba kỹ thuật chính thường được dùng để chữa trị ung thư là phẫu thuật, hóa liệu và bức xạ liệu pháp. Những cách chữa trị khác bao gồm các liệu pháp sinh học và liệu pháp hóc môn.
Bài viết này sẽ giới thiệu đến các bạn một trong những phương pháp điều trị ung thư đó là bức xạ liệu pháp.
Bức xạ liệu pháp/Xạ trị
Trong quá trình tiến hành bức xạ liệu pháp, các tế bào ung thư bị phá hủy bằng cách dùng phóng xạ liều cao. Việc điều trị có thể hoặc thực hiện bên ngoài hoặc thự hiện bên trong, tùy thuộc vào vị trí của bướu. Liều và vị trí phóng xạ được tính toán một cách cẩn thận để những tế bào bình thường bị phóng xạ càng ít càng tốt, cho phép chúng xử lý tổn hại nhỏ và không lâu dài. Việc chữa trị lúc đó không đau, nhưng những tác dụng phụ như là buồn nôn có thể tăng khi tiếp tục điều trị. Bức xạ liệu pháp  có thể chỉ được dùng một mình hoặc cùng với các biện pháp điều trị khác.
Bức xạ bên ngoài:
Bức xạ bên ngoài thường được thực hiện bằng cách dùng một máy gia tốs tuyến tính, máy này tạo ra tia X, tia gamma, hoặc các chùm electron. Loại phóng xạ này được dùng tùy thuộc vào loại ung thư. Người ta thường đánh dấu bằng mực trên da để phác thảo khu vực cần chữa trị. Việc chữa trị có thể thực hiện nhiều lần trong một tuần, hay nhiều lần trong một ngày, điều dó tùy thuộc vào ung thư và loại bức xạ được sử dụng.

Bức xạ bên trong
Trong suốt tiến trình này, các chất liệu phóng xạ được đặt trực tiếp vào trong hoặc xung quanh ung thư. Ví dụ ống phóng xạ tạm thời có thể được đặt vào trong cơ quan rỗng như là tử cung hoặc âm đạo. Thỉnh thoảng, một chất phóng xạ có thể được tiêm hoặc được uống vào trong xoang cơ thể . Trong một số trường hợp các hạt phóng xạ nhỏ được đặt trực tiếp vào cơ quanbọ bệnh và để một chỗ trong khi chúng từ từ phóng các tia phóng xạ,
Điều trị bằng phóng xạ:
Trong kỹ thuật này, phóng xạ được tập trung một cách cẩn thận trên khu vực mô ung thư để phá hủy nó hoặc làm chậm sự phát triền của nó. Xạ trị, cũng được biết đến với tên gọi phóng xạ liệu pháp, có thể có những tác dụng phụ nghiêm trọng, Tuy nhiên, bác sĩ của bạn sẽ đề cập đến phóng xạ liệu trị nếu vị bác sĩ ấy tin rằng nó rất đáng công. 

Các tác dụng phụ phổ biến khác nhau tùy từng người và có thể bao gồm cả việc da bị ửng đỏ hoặc bị đau ở vị trí điều trị, ăn không ngon, buồn nôn, ói mửa và mệt mỏi. Nếu bạn dùng phóng xạ liệu pháp ở đầu hoặc ở cổ, bạn có thể bị rụng tóc tam thời và bị đau đớn ở cổ cũng như không miệng vĩnh viễn. Phóng xạ liệu pháp đối với ruột già có thể gây ra chứng sưng viêm và bệnh tiêu chảy dai dẳng. 
Nhiều trong số những tác dụng phụ này có thể được giảm bớt bằng cách dùng thuốc và chúng không còn nữa khi việc điều trị đã hoàn thành. Phóng xạ liệu pháp cũng có thể được dùng để trị bệnh hoặc làm giảm nhẹ tạm thời.
Xem thêm: 


Để tăng hiệu quả hỗ trợ điều trị ung thư và khắc phục những tác dụng phụ do quá trình điều trị ung thư gây ra, bạn có thể sử dụng các loại thảo dược thiên nhiên như xáo tam phân, giảo cổ lam, hoa đu đủ đực, nấm lim xanh... 
Các thảo dược này rất lành tính, an toan cho sức khoẻ lại giúp hỗ trợ cho quá trình điều trị ung thư và quá trình phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị rất tốt.