Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Ung thư biểu mô tế bào thận - Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Ung thư biểu mô tế bào thận là một loại ung thư xảy ra ở thận. Các tế bào ung thư được tìm thấy ở tấm đệm của các đường ống nhỏ (tubules) trong thận. Nó là loại ung thư thận phổ biến nhất ở người lớn.

Nguyên nhân, tỉ lệ mắc và các yếu tố có tính nguy cơ
Ung thư biểu mô tế bào thận ảnh hưởng khoảng 3 trên 10.000 người, dẫn đến 32.000 trường hợp mắc mới ở Mỹ hàng năm. Mỗi năm, khoảng 12.000 người ở Mỹ chết vì ung thư biểu mô tế bào thận. Xảy ra phổ biến nhất ở những ở tuổi 50-70, và điển hình ảnh hưởng ở nam giới. Nguyên nhân chính xác chưa được biết.
Những nhân tố có tính nguy cơ:
- Hút thuốc.
- Di truyền.
- Lịch sử có bệnh của gia đình.
- Điều trị thấm tách (lọc máu ngoài thận).
- Bệnh Hippel-Lindau, một bệnh di truyền ảnh hưởng đến các capillariest của não.
Triệu chứng đầu tiên thường là có máu trong nước tiểu. Đôi khi có liên quan đến cả hai thận. Ung thư lan rộng một cách dễ dàng, phần lớn thường tới phổi và các cơ quan nội tạng khác. Khoảng một phần 3 bệnh nhân có sự lan rộng (di căn) tại thời điểm chuẩn đoán.
Các triệu chứng
- Có máu trong nước tiểu.
- Màu nước tiểu khác thường (sẫm, hay nâu, vàng).
- Đau ở sườn.
- Đau lưng.
- Đau vùng bụng.
- Giảm cân không chủ định nhiều hơn 5% trọng lượng cơ thể.
- Sự lớn lên của một tinh hoàn.
- Sưng hay phù ở bụng.
- Các triệu chứng phụ mà có thể có liên quan đến bệnh này:
- Các bệnh lý về mắt.
- Xanh xao.
- Sự tăng trưởng tóc quá mức ở phụ nữ.
- Táo bón.
- Chịu lạnh kém.


Các dấu hiệu và các xét nghiệm
Bắt mạch vùng bụng có thể chỉ ra một khối lớn lên của nội tạng, đặc biệt là ở thận hay gan. Có thể có các mạch máu quấn dọc theo sự lớn lên của dây tinh hoàn ở đàn ông.
* Các xét nghiệm:
Đếm máu toàn phần (gồm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu). Xét nghiệm nước tiểu có thể cho thấy các tế bào hồng cầu trong đó:
- Canxi huyết thanh có thể cao.
- SGPT và alkaline phốt phát có thể cao.
- Xét nghiệm tế bào nước tiểu.
- Các xét nghiệm chức năng gan.
- Siêu âm bụng và thận.
- X-quang thận.
- Xét nghiệm IVP.
- Chụp mạch thận.
Các xét nghiệm sau đây có thể được thực hiện để xem liệu có sự lan rộng của ung thư hay không: CT vùng bụng có thể cho thấy một khối gan; chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể quyết định liệu ung thư đã lan tới các mạch máu xung quanh chưa; X-quang ngực có thể thấy một khối ở ngực; Scan xương có thể cho thấy sự liên quan của xương.
Phẫu thuật cắt tất cả phần bị ung thư của thận (nephrectomy) sẽ được đề nghị. Điều này có thể bao gồm cả cắt bỏ bàng quang hay các mô xung quanh hay các hạt lympho.
Liệu pháp xạ trị không thường có tác dụng đối với ung thư biểu mô tế bào thận và, do đó, không thường được sử dụng. Các liệu pháp hormone có thể giảm sự tăng trưởng của khối u ở một số trường hợp.

Các thuốc như alpha-interferon và interleukin đã làm giảm thành công sự tăng trưởng của một số trường hợp ung thư biểu mô tế bào thận, bao gồm cả một số đã lan rộng. Bỏ thuốc lá. Làm theo các yêu cầu của chuyên gia về y tế của bạn trong điều trị các rối loạn về thận, đặc biệt các rối loạn mà yêu cầu lọc máu ngoài thận.


Bên cạnh các phương pháp điều trị này, việc sử dụng các loại thảo dược có khả năng phòng và kháng ung thư như xáo tam phân, nấm lim xanh, xạ đen, ... cũng là một cách tốt để giúp hỗ trợ điều trị ung thư, tăng cường và phục hồi sức khoẻ trong và sau thời gian điều trị.

Tìm hiểu về căn bệnh ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung thường gặp 70% ở phụ nữ sau mãn kinh, 25% tiền mãn kinh và 5% trong độ tuổi sinh đẻ. Tại Việt Nam, ung thư nội mạc tử cung có tỷ lệ mắc là 2,5/100.000 dân, tỷ lệ tử vong là 0,9/100.000 dân, đứng hàng thứ 12 trong các loại ung thư ở nữ giới.

Tử cung là một tạng rỗng, thân tử cung được cấu tạo chính bởi 2 lớp: trong cùng được lót một lớp mỏng gọi là nội mạc tử cung, phía ngoài là lớp cơ. Ung thư nội mạc tử cung là bệnh mà các tế bào của lớp nội mạc tử cung bị biến đổi ác tính thành tế bào ung thư. Các tế bào ung thư phát triển tạo thành khối u tại chỗ sau đó xâm lấn rộng, phá vỡ các tổ chức xung quanh và cuối cùng theo đường máu hoặc bạch huyết các tế bào ung thư này sẽ di căn đến hạch bạch huyết hoặc các cơ quan ở xa khác như phối, gan, não, xương...

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Tuổi ung thư nội mạc tử cung gặp chủ yếu ở phụ nữ sau mãn kinh (75%), đa số trong khoáng 55- 60 tuổi, khoảng 5% xuất hiện ở tuổi dưới 40; mất cân bằng estrogen ở những người có vòng kinh không phóng noãn; điều trị nội tiết thay thế bằng estrogen; những người có kinh sớm (trước 12 tuổi) và mãn kinh muộn (sau 50 tuổi); không sinh con; béo phì; chế độ ăn nhiều mỡ động vật; mắc bệnh tăng huyết áp; đái tháo đường; mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng; dùng thuốc tamoxifen điều trị ung thư vú... 
Các yếu tố có tác dụng phòng bệnh đó là điều chính chế độ ăn uống (tăng cường rau quả, giảm chất béo động vật), duy trì cân nặng hợp lý, dùng thuốc tránh thai hay thuốc nội tiết thay thế có progestin có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh này.

Triệu chứng thường gặp
- Ở phụ nữ đã mãn kinh: Chảy máu, chảy dịch hoặc máu lẫn dịch bất thường ở âm đạo. Chảy máu lúc đầu ở dạng loãng, có các vệt máu, sau đó lượng máu tăng dần lên.
- Ở phụ nữ chưa mãn kinh: Chảy máu ngoài chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau quan hệ tình dục.
Khi có các dấu hiệu bất thường trên, người bệnh cần phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa để khám xét tỉ mỉ và làm các xét nghiệm cần thiết giúp chẩn đoán được bệnh từ giai đoạn sớm.
Bệnh ở giai đoạn muộn, các triệu chứng có thể gặp như đau bụng, đái ra máu hoặc bí đái do khối u chèn ép, xâm lấn vào bàng quang, hoặc có khi đi ngoài ra máu hoặc không đi ngoài được do khối u chèn ép, xâm lấn vào trực tràng phía sau. 


Về toàn trạng, bệnh nhân có thể có các biểu hiện mệt mỏi, thiếu máu, gầy sút cân, đặc biệt có những bệnh nhân để bệnh quá muộn, khi đến viện bệnh đã ở giai đoạn cuối, di căn nhiều nơi, việc chữa trị rất khó khăn, tốn kém và ít hiệu quả. Vì vậy nhận biết được các dấu hiệu sớm của bệnh, chị em nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Khi đến khám bệnh, bệnh nhân có thể cần làm một số xét nghiệm như: nạo buồng tử cung lấy bệnh phẩm làm tế bào học và giải phẫu bệnh học giúp chẩn đoán bệnh một cách chắc chắn, ngoài ra cần khám và làm một số xét nghiệm: chụp buồng tử cung vòi trứng, siêu âm, soi buồng tử cung, chụp hệ tiết niệu, soi bàng quang, trực tràng khi nghi ngờ có xâm lấn tới hai cơ quan này; chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ giúp chẩn đoán mức độ lan rộng của bệnh.

Các giai đoạn của bệnh:
Giai đoạn I: U phát triển giới hạn ở thân tử cung.
Giai đoạn II: U xâm lấn lan rộng đến cổ tử cung nhưng chưa lan ra khỏi tử cung.
Giai đoạn III: U lan ra ngoài tử cung nhưng còn khu trú trong khung chậu.
Giai đoạn IV: Đã có di căn xa.

Ở giai đoạn càng sớm thì tỷ lệ chữa khỏi càng cao, đó còn là cơ sở quan trọng giúp cho các bác sĩ lựa chọn các phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.
Phương pháp điều trị bệnh ung thư nội mạc tử cung: Bao gồm phẫu thuật, tia xạ, hoá chất và nội tiết.
Điều trị bằng phẫu thuật là phương pháp quan trọng nhất, được áp dụng cho phần lớn các bệnh nhân ở giai đoạn sớm (giai đoạn I, II). Ở giai đoạn muộn hơn, khi khối u đã lan rộng, việc phẫu thuật triệt căn gặp nhiều khó khăn và có nhiều biến chứng, do vậy điều trị chú yếu ở giai đoạn này là tia xạ và hoá chất.

Điều trị nội tiết được áp dụng cho những trường hợp khối u phát triển phụ thuộc vào nội tiết. Sau khi kết thúc điều trị các bệnh nhân cần được theo dõi sát bằng khám định kỳ bao gồm khám lâm sàng, siêu âm, chụp phổi,... 3 tháng một lần trong 2 năm đầu, 6 tháng một lần trong các năm tiếp theo để kịp thời phát hiện tái phát hoặc di căn nếu có.

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Ung thư khoang miệng - Nguyên nhân và cách điều trị

Ung thư khoang miệng có thể phát hiện sớm do bản thân bệnh nhân nhìn thấy hoặc được thầy thuốc thăm khám. Hằng năm, số lượng bệnh nhân mới ung thư khoang miệng tới 20.000, chiếm từ 6 -15% tổng số các loại ung thư. 


Tuy là loại ung thư dễ dàng quan sát được nhưng phần lớn các bệnh nhân ung thư khoang miệng lại đến viện ở giai đoạn muộn, khi tổn thương ung thư đã lan rộng, phá huỷ nhiều cấu trúc lân cận do đó tiên lượng sống của bệnh nhân bị giảm nhiều.

Vì sao khoang miệng bị ung thư?
Tuổi dễ mắc ung thư khoang miệng là từ 45 - 60 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới và nữ giới bị bệnh ung thư khoang miệng là tương đưong nhau. Rượu, thuốc lá, ăn trầu được xem là những yếu tố nguy cơ dẫn đển ung thư khoang miệng.
Tình trạng vệ sinh răng miệng kém cũng được một số nhà nghiên cứu nhắc đến và coi là nguyên nhân gây loại ung thư này. 


Ung thư khoang miệng có thể gặp ở mọi cấu trúc giải phẫu như ung thư môi, ung thư vòm khẩu cái, ung thư lưỡi, ung thư lợi, ung thư sàn miệng, ung thư các tuyến nước bọt, ung thư niêm mạc miệng. Thời gian khỏi phát bệnh trung bình từ 4 - 6 tháng.

Dấu hiệu của ung thư khoang miệng
Thường gặp là các tổn thương sùi ở các vị trí khác nhau của khoang miệng, sùi như mụn cóc, hoi thở hôi, đôi khi có hiện tượng thâm nhiễm cứng. 
Rất ít trường hợp bệnh nhân có cảm giác đau, chảy máu hoặc ảnh hướng tới các chức năng nói, nuốt nên bệnh nhân thường chủ quan và không đi khám. 
Giai đoạn muộn, các tế bào ung thư tấn công vào toàn bộ khoang miệng, lan xuống vùng cổ gây nuốt vướng, nuốt khó, nuốt đau. Khối u hoại tử làm cho bệnh nhân hay nhổ ra máu, mùi hôi thối. Đau nhức răng, lung lay răng là một trong những triệu chứng hay gặp.
Ung thư có thể phá huỷ phần ngăn cách giữa khoang miệng và hốc mũi - khẩu cái cứng - gây ra sự thông thương giữa hai khoang này làm cho họ phát âm một số từ khó khăn như m, n. Xuất hiện hạch cổ thường là hạch dưới cằm, dưới hàm hạch cứng chắc, ít di động, dính vào da và thậm chỉ thâm nhiễm ra da.


Ung thư khoang miệng được điều trị như thế nào?
Khi sinh thiết khối u làm giải phẫu bệnh chủ yếu hình ảnh bệnh lý của ung thư khoang miệng là carcinom tế bào gai ít đáp ứng với tia xạ và hoá chất nên biện pháp phẫu thuật đển nay vẫn được xem như là phương pháp tối ưu kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Do đó việc phát hiện sớm ung thư khoang miệng giúp ích rất nhiều trong việc bảo tồn các phần của khoang miệng bị lấy đi, bảo đảm cho bệnh nhân về mặt thẩm mỹ cũng như chức năng của khoang miệng.
Ở giai đoạn muộn, khi phải lấy bỏ khoang miệng rộng thì trong khi phẫu thuật ung thư khoang miệng, thầy thuốc thường phải kết hợp tạo hình lại một số vùng lấy đi nhằm bảo đảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau đó như tạo hình môi, tạo hình lưỡi... để bảo đảm về các chức năng nhai, nuốt, cảm giác vùng môi, tạo hình phân cách khoang miệng và mũi để tránh sặc khi ăn và phát âm chính xác.
Một số trường hợp ung thư khoang miệng tiến triển đển giai đoạn không còn chỉ định phẫu thuật hoặc khi khối u đã lan rộng (T3, T4) sau phẫu thuật cần thiết phải kết hợp với tia xạ để bảo đảm tiêu diệt hết các tế bào ung thư còn sót lại.

Bài thuốc Đông y hỗ trợ điều trị ung thư khoang miệng:
Hoàng kỳ: 30g
Đan sâm: 20g
Ngân hoa, bán chi liên, trần bì, quy xuyên: 15 g mỗi vị
Xuyên khung, liên kiều, bồ công anh: 12g mỗi vị
Kê nội kim, kim tiền thảo, ngẫu tiết, hoàng đằng, thỏ ti tử: 10g mỗi vị
Tam thất, xa nhân: 6 g mỗi vị
Có thể gia giảm một số vị như:
Bá tử nhân: 16g  
Kỉ tử, sơn từ cô, sơn giáp châu: 10g mỗi vị
Mỗi ngày sắc lấy 1 thang thuốc để uống, sau khoảng 1 tháng sử dụng thuốc thì sẽ đi kiểm tra sức khỏe 1 lần.



Phương pháp phòng bệnh được khuyến cáo đối với việc hạn chế ung thư khoang miệng cho mọi người bằng cách sử dụng các biện pháp vệ sinh răng miệng thật tốt, không nên sử dụng vôi trong khi ăn trầu, không hút thuốc lá và có cuộc sống lành mạnh.

Ngoài ra, nên uống nước ép trái cây nguyên chất, ăn nhiều loại thực phẩm chứa nhiều vitamin A, E, C, bởi đó là những loại dưỡng chất chống oxy hóa, thải trừ được những gốc tự do gây ra đột biến gen ung thư. Bên cạnh đó, hãy bổ sung đầy đủ từ 1,5l – 2l nước mỗi ngày cho cơ thể.

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Tìm hiểu về các loại bệnh ung thư và triệu chứng chung của ung thư

Ung thư là một tron những căn bệnh nguy hiểm và có tỉ lệ gây tử vong cao nhất hiện nay. Điều đáng lo ngại hơn là căn bệnh này đang ngày một lan rộng và phổ biến hơn với nhiều loại ung thư khác nhau và tỉ lệ người mắc bệnh tăng nhanh.


Các loại bệnh ung thư phổ biến hiện nay
Ba loại ung thư hàng đầu của nam giới ở Hoa Kỳ là ung thư tiền liệt tuyến, ung thưphổiung thư đại tràng. Trong khi đó ở phụ nữ là ung thư vú, ung thư phổi và ung thư đại tràng.
Một vài loại ung thư thì phổ biến ở một số vùng địa lý nhất định. Ví dụ như ở Nhật Bản, có rất nhiều trường hợp mắc ung thư dạ dày, trong khi đó loại ung thư này tương đối hiếm ở Hoa Kỳ. Sự khác nhau trong chế độ ăn có thể đóng vai trò trong vấn đề này. 

Một vài loại ung thư khác bao gồm:
- Ung thư não.
- Ung thư cổ tử cung.
- Ung thư tử cung.
- Ung thư gan.
- Ung thư thận.
- Ung thư da.
- Ung thư tinh hoàn.
- Ung thư tuyến giáp.
Triệu chứng chung của ung thư:
Triệu chứng của ung thư tuỳ thuộc vào loại và vị trí của ung thư. Ví dụ, ung thư phổi có thể gây ho, khó thở, đau ngực, trong khi đó, ung thư đại tràng thường gây tiêu chảy, táo bón, máu trong phân.
Một vài loại ung thư có thể không gây triệu chứng gì. Một vài loại ung thư như ung thư túi mật, triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi bệnh phát triển nặng.
Tuy nhiên, những triệu chứng sau đây thì phổ biến với hầu hết các loại ung thư:
 - Sốt.
- Lạnh, run.
- Đổ mồ hôi về đêm.
- Sụt cân.
- Chán ăn.
- Mệt mỏi.
- Khó chịu trong người.


Ngoài ra, dưới đây là một số dấu hiệu cũng đáng lưu ý:
- Ho kéo dài, đau ngực, ho ra máu (nghi ngờ ung thư phổi).
- Thay đổi thói quen đại tiện; tiêu bón, tiêu chảy xen kẽ, tiêu có chất nhầy nhớt hoặc có máu (nghi ngờ ung thư đại trực tràng).
- Ăn mau no, đầy hơi, đau thượng vị  (nghi ngờ ung thư dạ dày).
- Sốt kéo dài, đau hạ sườn phải, vàng mắt, vàng da nhẹ (nghi ngờ ung thư gan).
- Chảy máu âm đạo bất thường (nghi ngờ ung thư cổ tử cung, ung thư tử cung).
- Vết bầm xuất huyết dưới da (nghi ngờ bệnh bạch cầu).
- Nuốt nghẹn (nghi ngờ ung thư thực quản).
- Nhức đầu, mờ mắt, co giật (nghi ngờ ung thư não).
- Có cục ở vú, núm vú tụt vào hoặc tiết dịch bất thường (nghi ngờ ung thư vú).
- Tiểu có máu, tiểu khó, tinh dịch có máu (nghi ngờ ung thư tiền liệt tuyến, ung thư thận, ung thư bàng quang, ung thư tinh hoàn).
- Đau lâm râm vùng hạ vị ở phụ nữ (nghi ngờ ung thư tử cung hoặc buồng trứng) v.v...
- Nốt ruồi hoặc mụn cóc thay đổi hình dạng hoặc lớn nhanh bất thường, vết lở loét ở ngoài da không lành (nghi ngờ ung thư da, ung thư hắc tố melanoma).

Đây là những triệu chứng chung nhất của các bệnh nhân ung thư. Ngoài ra, đối với từng loại ung thư khác nhau sẽ có những triệu chứng riêng nữa.

Ung thư là gì và nguyên nhân nào gây ra ung thư?

Ung thư là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh trên 200 loại khác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách thức điều trị nhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của tế bào, khả năng tồn tại và phát triển ở các cơ quan và tổ chức lạ.
Các ung thư thường phát triển từ một tế bào ban đầu và phải mất nhiều năm cho tới khi có một kích thước đủ lớn để có thể nhận thấy được. Quá trình phát triển từ một tế bào duy nhất thành một khối ung thư trải qua nhiều giai đoạn.
Thông thường, các tế bào lành có một tuổi thọ nhất định và tuân thủ theo một quy luật chung là phát triển - già - chết. Các tế bào chết đi lại được thay thế bằng các tế bào mới. Cơ thể có một cơ chế kiểm soát quy luật này một cách chặt chẽ và duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan, tổ chức ở mức ổn đinh. Bệnh ung thư bắt đầu khi có một tế bào vượt qua cơ chế kiếm soát này của cơ thể, bắt đầu phát triển và sinh sôi không ngừng nghỉ, hình thành một đám tế bào có chung một đặc điểm phát triển vô tổ chức, xâm lấn và chèn ép vào các cơ quan và tổ chức xung quanh.
Các tế bào ung thư có liên kết lỏng lẻo, dễ dàng bứt ra khỏi khối u mẹ, theo mạch máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan mới, bám lại và tiếp tục sinh sôi nảy nở (quá trình này gọi là di căn). Các ung thư chèn ép hoặc di căn vào các cơ quan giữ chức năng sống của cơ thể như não, phổi, gan, thận bệnh nhân sẽ tử vong.


Ngày nay, người ta đã biết rằng sự phát triển bình thường của tế bào trong cơ thể được kiểm soát bằng ba nhóm gen:
Nhóm gen sinh trưởng (oncogenes): Chịu trách nhiệm về sự phát triển và biệt hoá của tế bào. Nếu nhóm gen này bị tổn thương (biến dị), nó hoạt động không theo đúng quy luật và sẽ khiến các tế bào phân chia liên tục và phát triển một cách không kiểm soát được.
Nhóm gen ức chế (oncogene supressors): Chịu trách nhiệm ức chế gen sinh trưởng, không cho các tế bào tham gia tuỳ tiện vào chu kỳ sinh trưởng. Nếu gen này bị mất hoặc bi tổn thương, các gen sinh trướng bi mất kiếm soát và hoạt động một cách bất thường khiến cho các tế bào sẽ sinh sản bất bình thường.
Nhóm gen sửa chữa. Là nhóm gen chịu trách nhiệm điều chỉnh những sai sót trong hoạt động của hai loại gen trên. Nếu loại gen này bị tổn thương thì những biến dị của hai loại gen trên sẽ không được khắc phục và sẽ dẫn đến sự sinh trưởng bất bình thường của tế bào.

Nguyên nhân chung gây ung thư

Tế bào là đơn vị cơ bản để hình thành tất cả sinh vật sống. Các tế bào bình thường sẽ nhân lên khi cơ thể cần đến, và chết đi khi cơ thể không cần. Ung thư xuất hiện khi sự phát triển của tế bào trong cơ thể vượt quá mức kiểm soát và tế bào phân chia quá nhanh. Nó cũng có thể xảy ra khi tế bào chưa chết đi.
Có nhiều loại ung thư khác nhau và cũng có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến ung thư. Có thể kể đến một số nguyên nhân phổ biến như:
- Tia xạ.
- Anh sáng mặt trời.
- Thuốc lá.
- Một số loại virus.
- Chất benzene.

- Một số loại nấm độc và độc chất aflatoxin (độc chất có trong các loại đậu mốc).

Xem thêm:

Những thực phẩm đánh bại ung thư

Ung thư có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của rất nhiều người và các bác sĩ nói rằng nếu bạn biết cách ăn uống, ung thư sẽ không còn đáng ngại nữa.

Chúng ta có thể phòng ngừa ung thư bằng cách tránh các yếu tố làm tăng nguy cơ như:
- Hút thuốc.
- Thức ăn sẵn.
- Phơi nắng quá nhiều.
Tuy nhiên, các yếu tố này chưa phải là tất cả, nó chỉ giúp bạn giảm nguy cơ chứ không thể bảo đảm bạn sẽ thoát khỏi căn bệnh đáng sự này.
Trước khi bắt đầu lựa chọn những thực phẩm có chức năng chống ung thư thì bạn cần nhớ dinh dưỡng cân bằng và đa dạng là điều tối quan trọng. Ngoài ra, bạn cần lưu ý 5 nguyên tắc sau:
- 5 khẩu phần rau quả mỗi ngày (tương đương với 400g);
- Ăn nhiều chất xơ,
- Giảm chất béo;
- Giảm muối;
- Giảm đường.
Nếu Trung tâm Nghiên cứu Ung bướu Hoa Kỳ cho rằng không một loại thực phẩm nào nên hay không nên ăn sẽ giúp ngăn ngừa ung thư thì một số nhà khoa học khẳng định số trường hợp ung thư sẽ có thể giảm tới 1/3 nếu chúng ta ăn uống hợp lý bởi điều này sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch, giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống lại các bệnh ung thư. Vậy đó là những thực phẩm nào?

Cà tím:
Được biết đến như là một loại quả trứng gà, loại rau này rất giàu chất terpene, có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các khối u ác tính. Những thực phẩm khác có hàm lượng terpenes cao gồm lá hương thảo, húng tây, húng quế và bạc hà.


Súp lơ xanh:
Thuộc họ cải bắp nhưng súp lơ xanh chứa rất nhiều phân tử chống ung thư cực mạnh và những nghiên cứu gần đây cho thấy nó có thể đánh bật được bệnh ung thư tiền liệt tuyến.

Sô cô la
 Không phải là sô cô la trắng hay sô cô la sữa vì chúng chứa rất nhiều đường và chất béo, mà đó là sô cô la đen với tí lệ ca cao nguyên chất ít nhất là 70%. Loại sô cô la này rất giàu chất chống ôxy hóa và các polyphenols, có tác dụng làm chậm lại sự tăng trưởng của các tế bào ung thư.


Tỏi
Từ xa xưa tỏi đã được xem là dược thảo rất tốt cho sức khỏe. Tỏi có khả năng chống lại các bệnh ung thư ruột, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư thận và ung thư tiền liệt tuyến.

Dầu cá:
Những loại cá như cá kiếm, cá mòi và cá trích rất giàu axit béo omega-3, họp chất có khả năng kìm hãm sự phát triển của các khối u ác tính. Các nghiên cứu cho thấy uống dầu cá 2 lần/tuần sẽ giúp phòng ngừa ung thư hiệu quả.

Cam quýt
Các loại quả họ cam quýt như cam, chanh, bưởi có chứa rất nhiều chất flavonoids, có khả năng ngăn chặn viêm nhiễm, tiêu diệt các tế bào ác tính manh nha. Tuy nhiên, không nên ăn vỏ cam quýt sống, nó chỉ thích hợp với việc làm sạch bát đĩa hay tạo mùi thơm cho không khí mà thôi.


Cà chua:

Nổi tiếng là loại quả giàu lycopene, cà chua giúp bảo vệ cơ thể chống lại ung thưtuyến tiền liệt. Cùng với cà rốt, củ cải đường và mơ, cà chua rất giàu chất caroten có khả năng ngăn chặn các khối u não.

15 Cách đơn giản phòng chống bệnh ung thư

Ung thư là nỗi lo sợ đối với rất nhiều người. Nhưng bạn hoàn toàn có thể phòng tránh nó bằng những thói quen đơn giản như đánh răng đúng cách, không ăn đồ ăn nhanh, và tích cực tập thể dục.


1. Chải răng thường xuyên: Chải răng đúng cách là một cách để ngăn chặn ung thư tuyến tụy. Bệnh về lợi do việc chải răng không đúng gây ra có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư lên 63%.

2. Uống trà xanh: Trà xanh chứa nhiều chất chống oxy hóa. Nó giúp ngăn ngừa ung thư da, phổi, thận và gan. Chỉ cần 2 cốc mỗi ngày làm giảm nguy cơ bị ung thư về đường tiêu hóa tới 32%. Đàn ông uống hơn 5 cốc mỗi ngày cũng giảm nửa nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt.


3. Ăn rau quả: Ăn ít nhất 5 suất rau củ và trái cây mỗi ngày là một yếu tố ngăn ngừa bệnh hữu hiệu. Các loại rau quả bao gồm cải xong, mâm xôi, cà rốt, cây việt quất, rau họ cải như súp lơ xanh, bắp cải.

4. Tránh khói xe cộ: Tiếp xúc với khí thải từ các phương tiện giao thông có thể làm tổn hại ADN, gia tăng nguy cơ bị ung thư. Nghiên cứu cho thấy những phụ nữ sống trong thành phố đông đúc sẽ tăng gấp 1,5 lần nguy cơ bị ung thư so với những ai sống ở vùng nông thôn.
Tránh khí thải bằng cách đóng cửa sổ, đi trên những con phố vắng, đặc biệt vào buổi sáng khi không khí còn trong lành.

5. Tập thể dục đều đặn: Các môn tập như thế dục thấm mỹ, chạy bộ hay bơi đều bảo vệ phái nữ khỏi bị ung thư vú, nhưng cần phải tập ít nhất 5 tiếng mỗi tuần. Những hoạt động nhẹ nhàng hơn như đi bộ, chơi golf không có hiệu quả bằng. Tập thế dục làm giảm hàm lượng hormone cần thiết để tế bào ung thư phát triển.


6. Không nhậu nhẹt: Mỗi ngày một vại bia hay một cốc rượu to sẽ làm tăng 10% nguy cơ ung thư ruột. Với phụ nữ, uống rượu hằng ngày cũng làm tăng khả năng bị ung thư vú lên 2%. Ngoài ra, quá nhiều chất cồn cũng làm hại gan.

7. Hạn chế thịt đỏ: Ăn thịt đỏ sẽ tạo ra các phân tử nguy hiểm trong mô cơ thể, làm tổn hại ADN, và tăng nguy cơ bị ung thư ruột. Phụ nữ ăn thịt đỏ nhiều hơn 3 lần/tuần dễ bị ung thư vú hơn, đặc biệt là những ai đã mãn kinh.

8. Hạn chế những cảm giác tiêu cực: Những người hay lo âu tăng 50% nguy cơ bị chết sớm vì mọi loại bệnh, trong đó có ung thư. Stress và sự lo lắng làm tiết ra hormone có hại cho cơ thể. Stress cũng làm gấp đôi nguy cơ bị ung thư vú đối với phái yếu.

9. Không ăn đồ ăn nhanh: Ăn những món chế biến sẵn như hamburger, thịt hun khói hay xúc xích mỗi ngày sẽ đẩy nguy cơ bị ung thư ruột lên 21% và khả năng bị các bệnh ung thư khác như thực quản, phổi, dạ dày, ung thư tuyến tiền liệt.


10. Tránh nơi có khói thuốc: Những người không hút thuốc tiếp xúc với khói thuốc lá sẽ tăng 20-30% nguy cơ bị ung thư phổi.

11. Theo dõi cân nặng: Sau hút thuốc, béo phì là yếu tố nguy hiểm hàng đầu gây ung thư. Lượng mỡ thừa trong cơ thể có thể gây ra 6 loại ung thư phổ biến, ảnh hướng tới vú, ruột và lá lách.

12. Uống sữa: Uống mỗi ngày một cốc sữa ít béo sẽ giảm nguy cơ bị ung thư buồng trứng ở phụ nữ tới 40%. Bởi nó tác động tới việc sản xuất protein parathiroid liên quan tới việc phát triển ung thư.
Nhưng uống quá nhiều sữa cũng tăng nguy cơ bị ung thư buồng trứng. Nghiên cứu trên 60.000 phụ nữ tìm thấy uống hơn 2 cốc sữa mỗi ngày đẩy mạnh nguy cơ bị bệnh này.


13. Tránh quan hệ tình dục bằng miệng: Dùng công cụ tránh thai khi dùng miệng quan hệ là nguyên tắc hàng đầu để tránh bị ung thư vòm họng. Căn bệnh này bị gây ra do sự lây nhiễm virus HPV, tác nhân chính của ung thư cổ tử cung.

14. Cho con bú: Việc cho con bú ít nhất 6 tháng sẽ làm giảm nguy cơ bị ung thư vú và ung thư buồng trứng ở các bà mẹ khoảng 7%. Còn nếu bạn đang mang thai, bây đón nhận cơn buồn nghén, bới nó có nghĩa là bạn đang tạo ra hormone ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển.

15. Không quên dùng kem chống nắng: Không chỉ dùng kem khi đi tắm biển mà còn bôi cả khi bạn tập thể dục ngoài trời. Khoảng 44% những người đi tập thể dục quên bôi kem chống nắng, khiến họ dễ bị ung thư da.

Ngoài ra sử dụng thường xuyên các loại thảo dược thiên nhiên lành tính như giảo cổ lam, rễ đinh lăng, xáo tam phân, ... cũng gớp phần ngăn ngừa ung thư rất tốt.