Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Cách điều trị ung thư xương theo Đông và Tây y

Ung thư xương là một căn bệnh ung thư nguy hiểm hình thành trong xương, thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Nhiều yếu tố được xem xét để quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Đó là: loại, vị trí, kích thước, sự lan rộng, tuổi tác, tổng trạng. Một kế hoạch điều trị được vạch ra phù hợp với nhu cầu mỗi bệnh nhân.


Các phương pháp điều trị   
Phẫu thuật xạ tạ, hoá trị: Bác sĩ thường phối hợp phương pháp điều trị phụ thuộc sự cần thiết của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được giới thiệu đến những bác sĩ chuyên về điều trị các loại ung thư. Thường thường, các chuyên gia làm việc với nhau như một đội; gồm: phẫu thuật viên, chuyên gia ung thư ở nhi và chuyên gia xạ trị
Phẫu thuật là một phần của điều trị ung thư xương. Bởi vì, bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu, phẫu thuật viên lấy u và một phần xương lành và mô lành khác xung quanh u.
Khi ung thư xương ở một cánh tay hay chân, phẫu thuật viên cố gắng lấy u và một vùng mô lành xung quanh u. Thỉnh thoảng phẫu thuật viên có thể sử dụng một dụng cụ kim loại để thay thế phần xương bị lấy đi. Ở trẻ em, thay thế dụng cụ kim loại có thể kéo dài khi trẻ lớn. Cách thức bảo tồn chi này cần nhiều lần phẫu thuật để giữ sự kéo dài chi nhân tạo.
Tuy nhiên, khi u lớn có lẽ đoạn chi là cần thiết.
Nếu đoạn chi thì cần làm chi giả: chân, cánh tay, bàn tay, bàn chân.
Hoá trị là dùng thuốc giết tế bào ung thư. Thường phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu. Thuốc theo dòng máu đi khắp cơ thể. Hoá trị được tiến hành nhiều đợt: sau một đợt điều trị là một khoảng thời gian hồi phục, tiếp sau đó là một điều trị mới và tiếp tục nhiều đợt.
Một số bệnh nhân điều trị hoá trị ngoại trú bệnh viện, dưỡng đường, hay phòng khám tại nhà của bác sĩ. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc điều trị bệnh nhân cần phải ở trong bệnh viện một thời gian ngắn.


Hoá trị luôn phối hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hoá trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật. Hoá trị còn là một điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật để diệt hết những tế bào ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể và phòng ngừa tái phát. Có khi bệnh nhân được hoá trị trước và sau phẫu thuật. Đối với vài loại ung thư xương hoá trị phối hợp với xạ trị. Hoá trị có thể được dùng để kiếm soát ung thư xương có di căn.
Xạ trị là dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Vài trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.
Bệnh nhân cần phải đến bệnh viện hay dưỡng đường mỗi ngày để xạ trị. Thường điều trị 5 ngày một tuần, trong 5 đến 8 tuần.


Các bài thuốc Đông y hỗ trợ điều trị ung thư xương:
Bên cạnh tây y, Đông y cũng có những bài thuốc hay giúp hỗ trợ điều trị ung thư xương mà bạn có thể tham khảo áp dụng để đem lại kết quả điều trị tốt chất.
- Bài thuốc 1:

Thụcđịa, kê huyết đằng: 15g mỗi vị
Đẳngsâm, hoàng kỳ: 12g mỗi vị
Đại miết trùng, từ trường liễu, bạch hoa xà thiệt thảo, đương quy: 10g mỗi vị
Ngũ hương: 9g
Lộ phong phòng, chích cam thảo: 6g
Ngô công: 3g
Sắc uống ngày một thang.


- Bài thuốc 2:

Mẫu lệ: 30g
Xuyên đoạn, đan sâm, đẳng sâm, cẩu tích, hoàng kỳ, hạ khô thảo, hải tảo, tang ký sinh: 12g mỗi vị
Bột địa long, lưu hành tử, đương quy, bạch truật: 9g mỗi vị
Mộc hương: 6g
Bột toàn yết: 5g
Sắc uống ngày một thang.
- Bài thuốc 3:

Bồ công anh, liên kiều,  ngân hoa, hoàng kỳ: 30g mỗi vị
Hải tảo, côn bố, đẳng sâm, đương quy: 15g mỗi vị
Bán hạ, trần bì, uất kim: 9g mỗi vị
Xuyên luyện tử: 5g
Sắc uống ngày một thang.

Tìm hiểu chung về căn bệnh ung thư xương

Ung thư xương là gì?
Ung thư mà bắt đầu từ xương gọi là ung thư xương nguyên phát. Ung thư xương thường thấy nhất ở cánh tay và chân, nhưng có thể xảy ra ở mọi xương trong cơ thể. Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.
Ung thư xương nguyên phát được gọi là sarcoma. Có nhiều loại sarcoma, mỗi thể bắt đầu từ một loại mô xương khác nhau. Thường thấy nhất là: sarcoma xương, Ewings sarcoma, và sarcoma sụn.


Sarcoma xương là loại thường thấy nhất của ung thư xương ở thiếu niên. Bệnh thường xuất hiện khoảng từ 10 đến 25 tuổi. Nam mắc bệnh nhiêu hơn nữ. Sarcoma xương thường xuất hiện ở đầu xương, nơi đó mô xương mới được hình thành ở tuổi thiếu niên. Sarcoma xương ảnh hưởng chủ yếu xương dài của cánh tay và chân.
Ewings sarcoma thường thấy khoảng 10-25 tuổi. Thiếu niên bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ung thư này hình thành ở phần giữa (thân xương) của những xương lớn. Xương bị ảnh hưởng nhiều nhất là xương hông và xương dài ở đùi, tay. Ung thư này có thể xảy ra ở xương sườn.
Sarcoma sụn chủ yếu ở người lớn. Loại u này hình thành trong sụn (mô mềm dẻo xung quanh khớp).
Những loại ung thư xương khác bao gồm: sarcoma sợi, u tế bào khổng lồ ác tính, u sụn. Những người trên 30 tuổi hiếm khi mắc những loại này.
Ung thư xương nguyên phát thì hiếm. Mặt khác, ung thư xương thường do di căn từ các cơ quan khác. Khi điều này xảy ra, bệnh không được gọi là ung thư xương. Mỗi loại ung thư được đặt tên theo cơ quan hoặc mô bị ung thư nguyên phát. Điều trị ung thư xương thứ phát phụ thuộc vào loại ung thư nguyên phát và sự di căn của nó.
Ung thư bắt đầu từ cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu, và những mô liên kết hay nâng đỡ khác trong có thể gọi là sarcoma mô mềm. Bệnh xảy ra ờ người lớn và trẻ em. Nhưng không bàn luận ở đây.
Leukemia, đa u tuỷ, và u lympho là ung thư bắt nguồn từ tế bào ở tuỷ xương. Đây là những bệnh khác nhau và không phải là ung thư xương.

Triệu chứng của ung thư xương?
Triệu chứng ung thư xương có khuynh hướng phát triển chậm. Phụ thuộc vào loại, vị trí, kích thước u.
Đau là triệu chứng thường thấy nhất của ung thư xương. Thỉnh thoảng là một u mềm, hơi đau trên xương có thể cảm giác được qua da. Vài trường hợp ung thư xương cản trở hoạt động bình thường. Ung thư xương có thể gây gãy xương.
Những triệu chứng trên không chắc là ung thư, nó có thể do nguyên nhân khác ít trầm trọng hơn. Ai gặp phải triệu chứng này nên tham vấn bác sĩ.


Chẩn đoán ung thư xương như thế nào?
Để chẩn đoán ung thư xương, bác sĩ sẽ hỏi tiền sử của bản thân và gia đình, và khám lâm sàng toàn diện. Ngoài ra còn kiểm tra tổng trạng, xét nghiệm máu, chụp X-quang. X-quang có thể cho thấy vị trí, kích thước và hình dạng u: u lành thường tròn, bờ rõ; ung thư xương thường có nhiều hình dạng và bờ không đều.
Nếu X-quang thấy nghi ngờ ung thư xương, một số xét nghiệm chuyên biệt sau có thể được làm. Những xét nghiệm này còn cho biết ung thư xương di căn hay chưa.
Xạ hình xương cho thấy kích thước, hình dạng, và VỊ trí của vùng bất thường trên xương. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào máu. Xương hấp thu chất này và được phát hiện bởi một dụng cụ đặc biệt gọi là scan.
CT scan hay CAT scan là kỹ thuật X-quang cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang của CT, nhờ một máy vi tính.


MRI (hình ảnh cộng hưởng từ) cũng cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang. MRI sử dụng từ trường rất mạnh liên kết với máy vi tính.
Chụp mạch máu là chụp X-quang mạch máu. Chất cản quang được tiêm vào mạch máu vì vậy thấy chi tiết mạch máu, xét nghiệm này cũng được làm để giúp ích kế hoạch phẫu thuật.
Sinh thiết là cách chắc chắn để nói có ung thư hay không. Sinh thiết tốt nhất nên làm ở bệnh viện noi có các bác sĩ kinh nghiệm về chẩn đoán ung thư xương. Bác sĩ lấy một mẫu mô từ u xương. Chuyên viên giải phẫu bệnh xem mẫu đó dưới kính hiển vi, nếu thấy ung thư thì anh ta có thể cho biết loại sarcoma và khả năng phát triển nhanh hay chậm.

Nếu đã chẩn đoán ung thư xương thì điều quan trọng cần xác định là nguyên phát hay thứ phát. Dữ kiện này rất quan trọng trong điều trị. Kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm, X-quang, chụp cắt lớp (scan), và sinh thiết được sử dụng để phân chia ung thư. Giai đoạn ung thư xác định ung thư đã di căn hay chưa và bao nhiêu mô bì ảnh hưởng.

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Ung thư biểu mô tế bào thận - Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Ung thư biểu mô tế bào thận là một loại ung thư xảy ra ở thận. Các tế bào ung thư được tìm thấy ở tấm đệm của các đường ống nhỏ (tubules) trong thận. Nó là loại ung thư thận phổ biến nhất ở người lớn.

Nguyên nhân, tỉ lệ mắc và các yếu tố có tính nguy cơ
Ung thư biểu mô tế bào thận ảnh hưởng khoảng 3 trên 10.000 người, dẫn đến 32.000 trường hợp mắc mới ở Mỹ hàng năm. Mỗi năm, khoảng 12.000 người ở Mỹ chết vì ung thư biểu mô tế bào thận. Xảy ra phổ biến nhất ở những ở tuổi 50-70, và điển hình ảnh hưởng ở nam giới. Nguyên nhân chính xác chưa được biết.
Những nhân tố có tính nguy cơ:
- Hút thuốc.
- Di truyền.
- Lịch sử có bệnh của gia đình.
- Điều trị thấm tách (lọc máu ngoài thận).
- Bệnh Hippel-Lindau, một bệnh di truyền ảnh hưởng đến các capillariest của não.
Triệu chứng đầu tiên thường là có máu trong nước tiểu. Đôi khi có liên quan đến cả hai thận. Ung thư lan rộng một cách dễ dàng, phần lớn thường tới phổi và các cơ quan nội tạng khác. Khoảng một phần 3 bệnh nhân có sự lan rộng (di căn) tại thời điểm chuẩn đoán.
Các triệu chứng
- Có máu trong nước tiểu.
- Màu nước tiểu khác thường (sẫm, hay nâu, vàng).
- Đau ở sườn.
- Đau lưng.
- Đau vùng bụng.
- Giảm cân không chủ định nhiều hơn 5% trọng lượng cơ thể.
- Sự lớn lên của một tinh hoàn.
- Sưng hay phù ở bụng.
- Các triệu chứng phụ mà có thể có liên quan đến bệnh này:
- Các bệnh lý về mắt.
- Xanh xao.
- Sự tăng trưởng tóc quá mức ở phụ nữ.
- Táo bón.
- Chịu lạnh kém.


Các dấu hiệu và các xét nghiệm
Bắt mạch vùng bụng có thể chỉ ra một khối lớn lên của nội tạng, đặc biệt là ở thận hay gan. Có thể có các mạch máu quấn dọc theo sự lớn lên của dây tinh hoàn ở đàn ông.
* Các xét nghiệm:
Đếm máu toàn phần (gồm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu). Xét nghiệm nước tiểu có thể cho thấy các tế bào hồng cầu trong đó:
- Canxi huyết thanh có thể cao.
- SGPT và alkaline phốt phát có thể cao.
- Xét nghiệm tế bào nước tiểu.
- Các xét nghiệm chức năng gan.
- Siêu âm bụng và thận.
- X-quang thận.
- Xét nghiệm IVP.
- Chụp mạch thận.
Các xét nghiệm sau đây có thể được thực hiện để xem liệu có sự lan rộng của ung thư hay không: CT vùng bụng có thể cho thấy một khối gan; chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể quyết định liệu ung thư đã lan tới các mạch máu xung quanh chưa; X-quang ngực có thể thấy một khối ở ngực; Scan xương có thể cho thấy sự liên quan của xương.
Phẫu thuật cắt tất cả phần bị ung thư của thận (nephrectomy) sẽ được đề nghị. Điều này có thể bao gồm cả cắt bỏ bàng quang hay các mô xung quanh hay các hạt lympho.
Liệu pháp xạ trị không thường có tác dụng đối với ung thư biểu mô tế bào thận và, do đó, không thường được sử dụng. Các liệu pháp hormone có thể giảm sự tăng trưởng của khối u ở một số trường hợp.

Các thuốc như alpha-interferon và interleukin đã làm giảm thành công sự tăng trưởng của một số trường hợp ung thư biểu mô tế bào thận, bao gồm cả một số đã lan rộng. Bỏ thuốc lá. Làm theo các yêu cầu của chuyên gia về y tế của bạn trong điều trị các rối loạn về thận, đặc biệt các rối loạn mà yêu cầu lọc máu ngoài thận.


Bên cạnh các phương pháp điều trị này, việc sử dụng các loại thảo dược có khả năng phòng và kháng ung thư như xáo tam phân, nấm lim xanh, xạ đen, ... cũng là một cách tốt để giúp hỗ trợ điều trị ung thư, tăng cường và phục hồi sức khoẻ trong và sau thời gian điều trị.

Tìm hiểu về căn bệnh ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung thường gặp 70% ở phụ nữ sau mãn kinh, 25% tiền mãn kinh và 5% trong độ tuổi sinh đẻ. Tại Việt Nam, ung thư nội mạc tử cung có tỷ lệ mắc là 2,5/100.000 dân, tỷ lệ tử vong là 0,9/100.000 dân, đứng hàng thứ 12 trong các loại ung thư ở nữ giới.

Tử cung là một tạng rỗng, thân tử cung được cấu tạo chính bởi 2 lớp: trong cùng được lót một lớp mỏng gọi là nội mạc tử cung, phía ngoài là lớp cơ. Ung thư nội mạc tử cung là bệnh mà các tế bào của lớp nội mạc tử cung bị biến đổi ác tính thành tế bào ung thư. Các tế bào ung thư phát triển tạo thành khối u tại chỗ sau đó xâm lấn rộng, phá vỡ các tổ chức xung quanh và cuối cùng theo đường máu hoặc bạch huyết các tế bào ung thư này sẽ di căn đến hạch bạch huyết hoặc các cơ quan ở xa khác như phối, gan, não, xương...

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Tuổi ung thư nội mạc tử cung gặp chủ yếu ở phụ nữ sau mãn kinh (75%), đa số trong khoáng 55- 60 tuổi, khoảng 5% xuất hiện ở tuổi dưới 40; mất cân bằng estrogen ở những người có vòng kinh không phóng noãn; điều trị nội tiết thay thế bằng estrogen; những người có kinh sớm (trước 12 tuổi) và mãn kinh muộn (sau 50 tuổi); không sinh con; béo phì; chế độ ăn nhiều mỡ động vật; mắc bệnh tăng huyết áp; đái tháo đường; mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng; dùng thuốc tamoxifen điều trị ung thư vú... 
Các yếu tố có tác dụng phòng bệnh đó là điều chính chế độ ăn uống (tăng cường rau quả, giảm chất béo động vật), duy trì cân nặng hợp lý, dùng thuốc tránh thai hay thuốc nội tiết thay thế có progestin có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh này.

Triệu chứng thường gặp
- Ở phụ nữ đã mãn kinh: Chảy máu, chảy dịch hoặc máu lẫn dịch bất thường ở âm đạo. Chảy máu lúc đầu ở dạng loãng, có các vệt máu, sau đó lượng máu tăng dần lên.
- Ở phụ nữ chưa mãn kinh: Chảy máu ngoài chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau quan hệ tình dục.
Khi có các dấu hiệu bất thường trên, người bệnh cần phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa để khám xét tỉ mỉ và làm các xét nghiệm cần thiết giúp chẩn đoán được bệnh từ giai đoạn sớm.
Bệnh ở giai đoạn muộn, các triệu chứng có thể gặp như đau bụng, đái ra máu hoặc bí đái do khối u chèn ép, xâm lấn vào bàng quang, hoặc có khi đi ngoài ra máu hoặc không đi ngoài được do khối u chèn ép, xâm lấn vào trực tràng phía sau. 


Về toàn trạng, bệnh nhân có thể có các biểu hiện mệt mỏi, thiếu máu, gầy sút cân, đặc biệt có những bệnh nhân để bệnh quá muộn, khi đến viện bệnh đã ở giai đoạn cuối, di căn nhiều nơi, việc chữa trị rất khó khăn, tốn kém và ít hiệu quả. Vì vậy nhận biết được các dấu hiệu sớm của bệnh, chị em nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Khi đến khám bệnh, bệnh nhân có thể cần làm một số xét nghiệm như: nạo buồng tử cung lấy bệnh phẩm làm tế bào học và giải phẫu bệnh học giúp chẩn đoán bệnh một cách chắc chắn, ngoài ra cần khám và làm một số xét nghiệm: chụp buồng tử cung vòi trứng, siêu âm, soi buồng tử cung, chụp hệ tiết niệu, soi bàng quang, trực tràng khi nghi ngờ có xâm lấn tới hai cơ quan này; chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ giúp chẩn đoán mức độ lan rộng của bệnh.

Các giai đoạn của bệnh:
Giai đoạn I: U phát triển giới hạn ở thân tử cung.
Giai đoạn II: U xâm lấn lan rộng đến cổ tử cung nhưng chưa lan ra khỏi tử cung.
Giai đoạn III: U lan ra ngoài tử cung nhưng còn khu trú trong khung chậu.
Giai đoạn IV: Đã có di căn xa.

Ở giai đoạn càng sớm thì tỷ lệ chữa khỏi càng cao, đó còn là cơ sở quan trọng giúp cho các bác sĩ lựa chọn các phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.
Phương pháp điều trị bệnh ung thư nội mạc tử cung: Bao gồm phẫu thuật, tia xạ, hoá chất và nội tiết.
Điều trị bằng phẫu thuật là phương pháp quan trọng nhất, được áp dụng cho phần lớn các bệnh nhân ở giai đoạn sớm (giai đoạn I, II). Ở giai đoạn muộn hơn, khi khối u đã lan rộng, việc phẫu thuật triệt căn gặp nhiều khó khăn và có nhiều biến chứng, do vậy điều trị chú yếu ở giai đoạn này là tia xạ và hoá chất.

Điều trị nội tiết được áp dụng cho những trường hợp khối u phát triển phụ thuộc vào nội tiết. Sau khi kết thúc điều trị các bệnh nhân cần được theo dõi sát bằng khám định kỳ bao gồm khám lâm sàng, siêu âm, chụp phổi,... 3 tháng một lần trong 2 năm đầu, 6 tháng một lần trong các năm tiếp theo để kịp thời phát hiện tái phát hoặc di căn nếu có.

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Ung thư khoang miệng - Nguyên nhân và cách điều trị

Ung thư khoang miệng có thể phát hiện sớm do bản thân bệnh nhân nhìn thấy hoặc được thầy thuốc thăm khám. Hằng năm, số lượng bệnh nhân mới ung thư khoang miệng tới 20.000, chiếm từ 6 -15% tổng số các loại ung thư. 


Tuy là loại ung thư dễ dàng quan sát được nhưng phần lớn các bệnh nhân ung thư khoang miệng lại đến viện ở giai đoạn muộn, khi tổn thương ung thư đã lan rộng, phá huỷ nhiều cấu trúc lân cận do đó tiên lượng sống của bệnh nhân bị giảm nhiều.

Vì sao khoang miệng bị ung thư?
Tuổi dễ mắc ung thư khoang miệng là từ 45 - 60 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới và nữ giới bị bệnh ung thư khoang miệng là tương đưong nhau. Rượu, thuốc lá, ăn trầu được xem là những yếu tố nguy cơ dẫn đển ung thư khoang miệng.
Tình trạng vệ sinh răng miệng kém cũng được một số nhà nghiên cứu nhắc đến và coi là nguyên nhân gây loại ung thư này. 


Ung thư khoang miệng có thể gặp ở mọi cấu trúc giải phẫu như ung thư môi, ung thư vòm khẩu cái, ung thư lưỡi, ung thư lợi, ung thư sàn miệng, ung thư các tuyến nước bọt, ung thư niêm mạc miệng. Thời gian khỏi phát bệnh trung bình từ 4 - 6 tháng.

Dấu hiệu của ung thư khoang miệng
Thường gặp là các tổn thương sùi ở các vị trí khác nhau của khoang miệng, sùi như mụn cóc, hoi thở hôi, đôi khi có hiện tượng thâm nhiễm cứng. 
Rất ít trường hợp bệnh nhân có cảm giác đau, chảy máu hoặc ảnh hướng tới các chức năng nói, nuốt nên bệnh nhân thường chủ quan và không đi khám. 
Giai đoạn muộn, các tế bào ung thư tấn công vào toàn bộ khoang miệng, lan xuống vùng cổ gây nuốt vướng, nuốt khó, nuốt đau. Khối u hoại tử làm cho bệnh nhân hay nhổ ra máu, mùi hôi thối. Đau nhức răng, lung lay răng là một trong những triệu chứng hay gặp.
Ung thư có thể phá huỷ phần ngăn cách giữa khoang miệng và hốc mũi - khẩu cái cứng - gây ra sự thông thương giữa hai khoang này làm cho họ phát âm một số từ khó khăn như m, n. Xuất hiện hạch cổ thường là hạch dưới cằm, dưới hàm hạch cứng chắc, ít di động, dính vào da và thậm chỉ thâm nhiễm ra da.


Ung thư khoang miệng được điều trị như thế nào?
Khi sinh thiết khối u làm giải phẫu bệnh chủ yếu hình ảnh bệnh lý của ung thư khoang miệng là carcinom tế bào gai ít đáp ứng với tia xạ và hoá chất nên biện pháp phẫu thuật đển nay vẫn được xem như là phương pháp tối ưu kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Do đó việc phát hiện sớm ung thư khoang miệng giúp ích rất nhiều trong việc bảo tồn các phần của khoang miệng bị lấy đi, bảo đảm cho bệnh nhân về mặt thẩm mỹ cũng như chức năng của khoang miệng.
Ở giai đoạn muộn, khi phải lấy bỏ khoang miệng rộng thì trong khi phẫu thuật ung thư khoang miệng, thầy thuốc thường phải kết hợp tạo hình lại một số vùng lấy đi nhằm bảo đảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau đó như tạo hình môi, tạo hình lưỡi... để bảo đảm về các chức năng nhai, nuốt, cảm giác vùng môi, tạo hình phân cách khoang miệng và mũi để tránh sặc khi ăn và phát âm chính xác.
Một số trường hợp ung thư khoang miệng tiến triển đển giai đoạn không còn chỉ định phẫu thuật hoặc khi khối u đã lan rộng (T3, T4) sau phẫu thuật cần thiết phải kết hợp với tia xạ để bảo đảm tiêu diệt hết các tế bào ung thư còn sót lại.

Bài thuốc Đông y hỗ trợ điều trị ung thư khoang miệng:
Hoàng kỳ: 30g
Đan sâm: 20g
Ngân hoa, bán chi liên, trần bì, quy xuyên: 15 g mỗi vị
Xuyên khung, liên kiều, bồ công anh: 12g mỗi vị
Kê nội kim, kim tiền thảo, ngẫu tiết, hoàng đằng, thỏ ti tử: 10g mỗi vị
Tam thất, xa nhân: 6 g mỗi vị
Có thể gia giảm một số vị như:
Bá tử nhân: 16g  
Kỉ tử, sơn từ cô, sơn giáp châu: 10g mỗi vị
Mỗi ngày sắc lấy 1 thang thuốc để uống, sau khoảng 1 tháng sử dụng thuốc thì sẽ đi kiểm tra sức khỏe 1 lần.



Phương pháp phòng bệnh được khuyến cáo đối với việc hạn chế ung thư khoang miệng cho mọi người bằng cách sử dụng các biện pháp vệ sinh răng miệng thật tốt, không nên sử dụng vôi trong khi ăn trầu, không hút thuốc lá và có cuộc sống lành mạnh.

Ngoài ra, nên uống nước ép trái cây nguyên chất, ăn nhiều loại thực phẩm chứa nhiều vitamin A, E, C, bởi đó là những loại dưỡng chất chống oxy hóa, thải trừ được những gốc tự do gây ra đột biến gen ung thư. Bên cạnh đó, hãy bổ sung đầy đủ từ 1,5l – 2l nước mỗi ngày cho cơ thể.

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Tìm hiểu về các loại bệnh ung thư và triệu chứng chung của ung thư

Ung thư là một tron những căn bệnh nguy hiểm và có tỉ lệ gây tử vong cao nhất hiện nay. Điều đáng lo ngại hơn là căn bệnh này đang ngày một lan rộng và phổ biến hơn với nhiều loại ung thư khác nhau và tỉ lệ người mắc bệnh tăng nhanh.


Các loại bệnh ung thư phổ biến hiện nay
Ba loại ung thư hàng đầu của nam giới ở Hoa Kỳ là ung thư tiền liệt tuyến, ung thưphổiung thư đại tràng. Trong khi đó ở phụ nữ là ung thư vú, ung thư phổi và ung thư đại tràng.
Một vài loại ung thư thì phổ biến ở một số vùng địa lý nhất định. Ví dụ như ở Nhật Bản, có rất nhiều trường hợp mắc ung thư dạ dày, trong khi đó loại ung thư này tương đối hiếm ở Hoa Kỳ. Sự khác nhau trong chế độ ăn có thể đóng vai trò trong vấn đề này. 

Một vài loại ung thư khác bao gồm:
- Ung thư não.
- Ung thư cổ tử cung.
- Ung thư tử cung.
- Ung thư gan.
- Ung thư thận.
- Ung thư da.
- Ung thư tinh hoàn.
- Ung thư tuyến giáp.
Triệu chứng chung của ung thư:
Triệu chứng của ung thư tuỳ thuộc vào loại và vị trí của ung thư. Ví dụ, ung thư phổi có thể gây ho, khó thở, đau ngực, trong khi đó, ung thư đại tràng thường gây tiêu chảy, táo bón, máu trong phân.
Một vài loại ung thư có thể không gây triệu chứng gì. Một vài loại ung thư như ung thư túi mật, triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi bệnh phát triển nặng.
Tuy nhiên, những triệu chứng sau đây thì phổ biến với hầu hết các loại ung thư:
 - Sốt.
- Lạnh, run.
- Đổ mồ hôi về đêm.
- Sụt cân.
- Chán ăn.
- Mệt mỏi.
- Khó chịu trong người.


Ngoài ra, dưới đây là một số dấu hiệu cũng đáng lưu ý:
- Ho kéo dài, đau ngực, ho ra máu (nghi ngờ ung thư phổi).
- Thay đổi thói quen đại tiện; tiêu bón, tiêu chảy xen kẽ, tiêu có chất nhầy nhớt hoặc có máu (nghi ngờ ung thư đại trực tràng).
- Ăn mau no, đầy hơi, đau thượng vị  (nghi ngờ ung thư dạ dày).
- Sốt kéo dài, đau hạ sườn phải, vàng mắt, vàng da nhẹ (nghi ngờ ung thư gan).
- Chảy máu âm đạo bất thường (nghi ngờ ung thư cổ tử cung, ung thư tử cung).
- Vết bầm xuất huyết dưới da (nghi ngờ bệnh bạch cầu).
- Nuốt nghẹn (nghi ngờ ung thư thực quản).
- Nhức đầu, mờ mắt, co giật (nghi ngờ ung thư não).
- Có cục ở vú, núm vú tụt vào hoặc tiết dịch bất thường (nghi ngờ ung thư vú).
- Tiểu có máu, tiểu khó, tinh dịch có máu (nghi ngờ ung thư tiền liệt tuyến, ung thư thận, ung thư bàng quang, ung thư tinh hoàn).
- Đau lâm râm vùng hạ vị ở phụ nữ (nghi ngờ ung thư tử cung hoặc buồng trứng) v.v...
- Nốt ruồi hoặc mụn cóc thay đổi hình dạng hoặc lớn nhanh bất thường, vết lở loét ở ngoài da không lành (nghi ngờ ung thư da, ung thư hắc tố melanoma).

Đây là những triệu chứng chung nhất của các bệnh nhân ung thư. Ngoài ra, đối với từng loại ung thư khác nhau sẽ có những triệu chứng riêng nữa.

Ung thư là gì và nguyên nhân nào gây ra ung thư?

Ung thư là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh trên 200 loại khác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách thức điều trị nhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của tế bào, khả năng tồn tại và phát triển ở các cơ quan và tổ chức lạ.
Các ung thư thường phát triển từ một tế bào ban đầu và phải mất nhiều năm cho tới khi có một kích thước đủ lớn để có thể nhận thấy được. Quá trình phát triển từ một tế bào duy nhất thành một khối ung thư trải qua nhiều giai đoạn.
Thông thường, các tế bào lành có một tuổi thọ nhất định và tuân thủ theo một quy luật chung là phát triển - già - chết. Các tế bào chết đi lại được thay thế bằng các tế bào mới. Cơ thể có một cơ chế kiểm soát quy luật này một cách chặt chẽ và duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan, tổ chức ở mức ổn đinh. Bệnh ung thư bắt đầu khi có một tế bào vượt qua cơ chế kiếm soát này của cơ thể, bắt đầu phát triển và sinh sôi không ngừng nghỉ, hình thành một đám tế bào có chung một đặc điểm phát triển vô tổ chức, xâm lấn và chèn ép vào các cơ quan và tổ chức xung quanh.
Các tế bào ung thư có liên kết lỏng lẻo, dễ dàng bứt ra khỏi khối u mẹ, theo mạch máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan mới, bám lại và tiếp tục sinh sôi nảy nở (quá trình này gọi là di căn). Các ung thư chèn ép hoặc di căn vào các cơ quan giữ chức năng sống của cơ thể như não, phổi, gan, thận bệnh nhân sẽ tử vong.


Ngày nay, người ta đã biết rằng sự phát triển bình thường của tế bào trong cơ thể được kiểm soát bằng ba nhóm gen:
Nhóm gen sinh trưởng (oncogenes): Chịu trách nhiệm về sự phát triển và biệt hoá của tế bào. Nếu nhóm gen này bị tổn thương (biến dị), nó hoạt động không theo đúng quy luật và sẽ khiến các tế bào phân chia liên tục và phát triển một cách không kiểm soát được.
Nhóm gen ức chế (oncogene supressors): Chịu trách nhiệm ức chế gen sinh trưởng, không cho các tế bào tham gia tuỳ tiện vào chu kỳ sinh trưởng. Nếu gen này bị mất hoặc bi tổn thương, các gen sinh trướng bi mất kiếm soát và hoạt động một cách bất thường khiến cho các tế bào sẽ sinh sản bất bình thường.
Nhóm gen sửa chữa. Là nhóm gen chịu trách nhiệm điều chỉnh những sai sót trong hoạt động của hai loại gen trên. Nếu loại gen này bị tổn thương thì những biến dị của hai loại gen trên sẽ không được khắc phục và sẽ dẫn đến sự sinh trưởng bất bình thường của tế bào.

Nguyên nhân chung gây ung thư

Tế bào là đơn vị cơ bản để hình thành tất cả sinh vật sống. Các tế bào bình thường sẽ nhân lên khi cơ thể cần đến, và chết đi khi cơ thể không cần. Ung thư xuất hiện khi sự phát triển của tế bào trong cơ thể vượt quá mức kiểm soát và tế bào phân chia quá nhanh. Nó cũng có thể xảy ra khi tế bào chưa chết đi.
Có nhiều loại ung thư khác nhau và cũng có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến ung thư. Có thể kể đến một số nguyên nhân phổ biến như:
- Tia xạ.
- Anh sáng mặt trời.
- Thuốc lá.
- Một số loại virus.
- Chất benzene.

- Một số loại nấm độc và độc chất aflatoxin (độc chất có trong các loại đậu mốc).

Xem thêm: