Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Bệnh sán lá gan - Biểu hiện, cách phòng ngừa và điều trị

Một trong những đặc điểm của bệnh lý gan ở Việt Nam là có nhiều bệnh gan do nhiễm các loại vi sinh vật, ký sinh trùng... mà nguyên nhân chủ yếu là do ý thức về vệ sinh của người dân cũng như các điều kiện vệ sinh môi trường chưa được tốt. Trong đó, bệnh gan do nhiễm các loại ký sinh trùng đường ruột như nhiễm sán lá gan tương đối khá phổ biến.


BỆNH NHIỄM SÁN LÁ GAN LÀ GÌ?
Đây cũng là một bệnh gây ra do một loại ký sinh trùng có hình dạng dẹp giống như chiếc lá, màu nâu đỏ, sống trong đường mật và trong gan nên được gọi là sán lá gan. Bệnh này chủ yếu xảy ra ở các súc vật như trâu, bò, cừu, ngựa... Con người chỉ tình cờ bị nhiễm bệnh mà thôi.

Sán lá gan có hai loại: Sán lá lớn có tên khoa học là Fasciola hepatica và sán lá nhỏ có tên khoa học là Clonorchis sinensis.
Chu kỳ phát triển của hai loại sán lá trên có một số đặc điểm khác nhau:
1/ Sán lá lớn đẻ trứng. Trứng theo đường mật xuống ruột rồi theo phân ra ngoài, ở môi trường nước ngọt, trứng nở ra ấu trùng tức là các dạng ký sinh trùng còn nhỏ chưa trưởng thành. Âu trùng sống ký sinh trong một loại ốc rồi qua nhiều giai đoạn biến đổi, ấu trùng chui ra khỏi ốc và sống dưới nước, bám vào các rau cỏ mọc ở nước. Khi người hoặc súc vật uống nước hoặc ăn phải rau bị nhiễm, ấu trùng sẽ đi vào trong ruột. Tiếp theo đó, nó đi xuyên qua màng bụng, rồi xuyên qua màng bao gan để cư trú trong gan. Một thời gian sau, sán lá di chuyển dần đến sống trong đường mật. Khi trưởng thành, sán lá đẻ trứng ở trong đường mật. Do đó, bị nhiễm sán lá lớn chủ yếu là do ăn các rau cỏ sống dưới nước bị nhiễm như rau muống ở ao hồ, ngó sen... mà không được rửa kỹ hoặc nấu chín.


2/ Sán lá nhỏ sống chủ yếu trong đường mật và đẻ trứng. Trứng cũng theo phân ra ngoài. Gặp nước, trứng sẽ nở ra ấu trùng. Ấu trùng ký sinh trong các sinh vật sống ở dưới nước như cá, ốc... Chúng ta bị nhiễm sán lá nhỏ là do ăn các loại cá như cá chép, cá rô... và các loại ốc đã bị nhiễm mà không được nấu chín. Những nơi có thói quen ăn gỏi cá sống, cá nướng trui hoặc các món ốc mà không được nấu chín thường dễ bị nhiễm sán lá nhỏ. Ấu trùng vào ruột sẽ đi ngược lên đường mật rồi cư trú ở đó. Khi sán lá nhỏ trưởng thành sẽ đẻ trứng và tiếp tục chu trình lây nhiễm cho người khác.

BIỂU HIỆN CỦA BỆNH NHIỄM SÁN LÁ GAN NHƯ THẾ NÀO?
Việt Nam, nhiễm sán lá lớn thường gặp ở các tỉnh miền Trung đi từ Khánh Hoà-Nha Trang đến Thừa Thiên-Huế... Còn nhiễm sán lá nhỏ đa số gặp ở các tỉnh miền Bắc.
Trong thời kỳ đầu, bệnh nhân thường bị sốt nhưng không cao lắm, rối loạn tiêu hóa, nổi mẩn đỏ ngoài da. Gan có thể to và đau tức vùng dưới sườn bên phải. Sán lá gan có thể gây viêm nhiễm và tắc đường mật. Lúc đó, bệnh nhân có thể bị vàng da. Lâu ngày, có thể gây xơ gan do tắc mật hoặc tiến triển thành ung thư đường mật. Bệnh nhân thường được chẩn đoán lầm là áp xe gan do amíp và được điều trị bằng các thuốc trị amíp và kháng sinh cho nên bênh vẫn không thuyên giảm.
Việc chẩn đoán bệnh được dựa vào các biểu hiện gợi ý, siêu âm bụng và đặc biệt là xét nghiệm máu tìm kháng thể kháng sán lá gan. Ngoài ra, bạch cầu ái toan trong máu tăng cao cũng có giá trị hướng dẫn cho việc chẩn đoán. Xét nghiệm phân ít khi tìm được trứng sán lá gan.

Hiện nay, thuốc điều trị đặc hiệu cho nhiễm sán lá lớn ở gan là Bithionol hay Triclabenzolc nhưng các thuốc này chưa có mặt trên thị trường Việt Nam. Chúng ta có thể điều trị thay thế bằng Emetine (tiêm bắp trong 10 ngày), Praziquantel (Biltricide hay Distocide) và Albendazole (Zentel). Đối với sán lá nhỏ ở gan cũng có hiệu quả khi dùng Praziquantel và Albendazole.



Vẫn là các biện pháp vệ sinh về thực phẩm và ăn uống. Quan trọng nhất là không ăn các loại rau sống mà không được rửa kỹ và nên tránh ăn các loại thức ăn được làm từ ốc và cá sống như gỏi cá sống, cá nướng trui...

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Ung thư nguyên phát khi được phát hiện có điều trị được không?

Các bệnh nhân khi phát hiện ung thư gan nguyên phát sẽ rất hoang mang, lo lắng, nhiều người còn bị suy sụp bởi cứ nghĩ rằng ung thư là một "căn bệnh tử thần" không chữa được. Vậy điều này có đúng không? Liệu ung thư nguyên phát khi được phát hiện có điều trị được hay không?


Vần đề điều trị còn tùy thuộc vào thời điểm phát hiện khối u và tình trạng của gan cũng như sức khoẻ của bệnh nhân có cho phép mổ cắt bỏ khối u hay không. Cho đến hiện nay, phương pháp mổ cắt bỏ khối u vẫn là phương pháp tốt nhất có thể điều trị khỏi ung thư gan với điều kiện là khối u còn nhỏ (thường là dưới 5cm), nằm ở một thùy của gan và gan chưa bị xơ nhiều. Tuy nhiên, sau khi phẫu thuật, 50% ung thư gan vẫn có thể bị tái phát trong vòng 5 năm. Nguyên nhân là do tế bào ung thư đã lan đi xa ra chỗ khác mà trong lúc mổ không phát hiện được cho nên cắt u còn sót.
Ở một số quốc gia có nền y học tiên tiến, người ta có thể “thay gan mới” hay còn gọi là “ghép gan” cho những bệnh nhân ung thư gan đã bị xơ gan nhiều với điều kiện là khối u còn nhỏ dưới 5 cm và gan chỉ có dưới 3 khối u mà thôi. Nếu khối u lớn hơn hoặc quá nhiều u trong gan thì thường không ghép gan được.


Trên thực tế ở nước ta, 80% các trường hợp ung thư gan được phát hiện khi khối u đã lớn hoặc đã di căn đi nơi khác; vì vậy những bệnh nhân này không còn khả năng mổ được nữa. Vấn đề điều trị chỉ nhằm mục đích làm giảm bớt kích thước khối u, giảm bớt các triệu chứng do u gây ra và kéo dài đời sống cho bệnh nhân mà thôi.
Hiện nay, còn có một vài cách điều trị mới có thể áp dụng cho những bệnh nhân bị ung thư gan nguyên phát:
+ Đối với những ung thư gan nhỏ hơn hay bằng 3 cm, người ta có thể dùng phương pháp chích chất cồn nguyên chất vào trong khối u. Trên 90% tế bào ung thư sẽ chết đi sau khi chích chất cồn. Một vài nghiên cứu cho thấy phương pháp chích cồn có kết quả tương tự như phẫu thuật nhưng có ưu điểm là bệnh nhân tránh được cuộc mổ và không cần phải nằm bệnh viện lâu. Nên nhớ rằng, phương pháp chích cồn không có hiệu quả lắm cho các ung thư lớn hơn 3 cm.



+ Gần đây, còn có một phương pháp mới gọi là phương pháp thuyên tắc hóa dầu qua động mạch để điều trị ung thư gan nguyên phát cho những bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật cắt bỏ khối u gan.
Ngoài các phương pháp điều trị theo y học hiện đại, trong y học cổ truyền cũng có những bài thuốc, vị thuốc giúp hỗ trợ điều trị ung thư gan đem lại kết quả cũng rất khả quan, đem đến hi vọng cho các bệnh nhân ung thư gan.
Một số thảo dược, vị thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư gan được nhiều bệnh nhân tin tưởng sử dụng hiện nay như an xoa, xạ đen, xáo tam phân, ...

Làm sao để biết mình bị ung thư gan?

Ung thư gan là một trong những căn bệnh ung thư phổ biến và nguy hiểm nhất hiện nay. Tuy nhiên nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì bệnh vẫn có cơ hội trị khỏi. Vậy làm thể nào để phát hiện sớm mình có bị ung thư gan hay không?


Cách phát hiện ung thư gan
Trong thời kỳ đầu, đa số các bệnh nhân bị ung thư gan hoàn toàn không có triệu chứng gì. 
Bệnh được phát hiện là nhờ khi làm siêu âm hoặc thử máu để tầm soát những người có nguy cơ cao bị ung thư gan (ví dụ như các bệnh nhân nhiễm siêu vi B mãn tính, nhất là ở giai đoạn đã bị xơ gan) hoặc là do tình cờ làm siêu âm bụng vì một lý do nào đó. Người ta đã chứng minh rằng việc làm siêu âm bụng và xét nghiệm máu tìm chất AFP định kỳ mỗi 6 tháng có thể giúp phát hiện sớm ung thư gan khi kích thước còn nhỏ ở các bệnh nhân bị xơ gan hoặc những người có các yếu tố nguy cơ khác.
Khi khối ung thư phát triển lớn hơn, bệnh nhân sẽ có các triệu chứng như:
+ Sụt cân
+ Đau vùng dưới sườn bên phải
+ Chán ăn, ăn không tiêu, sốt, sức khỏe bị suy sụp nhanh và có thể bị vàng da. 
+ Bệnh nhân cũng có thể tự nhận thấy vùng dưới sườn bên phải nổi gồ lên một khối u cứng chắc. 


Một số trường hợp khối ung thư gan có thể di chuyển để tạo thêm các khối u ở nơi khác mà người ta gọi đó là hiện tượng di căn. Ung thư gan nguyên phát có thể di căn lên phổi, hạch bạch huyết, di căn đến xương làm bệnh nhân bị đau nhức các xương và có thể bị yếu liệt tay chân hoặc có thể di căn đến màng bụng làm cho bụng to dần ra do có dịch trong bụng. 
Đôi khi, khối ung thư lớn có thể bị vỡ vào trong ổ bụng nên khi chọc dò trong bụng có thể rút ra máu không đông.
Nói chung, ung thư gan khi được phát hiện ở giai đoạn trễ, bệnh nhân thường sống khoảng 2-6 tháng tùy loại ung thư và mức độ lớn cũng như mức độ di căn đi các nơi của khối u

Để chẩn đoán ung thư gan, cần phải làm các xét nghiệm nào?
Ung thư gan được phát hiện chủ yếu dựa vào những kỹ thuật về hình ảnh học như siêu âm bụng, chụp X quang cắt lớp vùng bụng (CT scanner vùng bụng). Đôi khi để xác định rõ hơn một số loại u ở gan, người ta còn cho chụp bụng theo phương pháp cộng hưởng từ (MRI: Magnetic Resonance Imaging).
Muốn đánh giá tình trạng lưu thông của mạch máu trong gan, người ta có thể yêu cầu làm siêu âm doppler mạch máu. Còn nếu muốn xem chi tiết hơn hình ảnh mạch máu của gan, người ta thường chụp cản quang động mạch gan, đặc biệt là trong các trường hợp bệnh nhân cần phải mổ cắt bỏ khối u.


Ngoài ra, một xét nghiệm máu không thể thiếu được trong việc chẩn đoán ung thư gan, đó là xét nghiệm đo nồng độ chất AFP trong máu. Chất AFP (Alpha Foeto-Pro- tein) là một loại protein do các tế bào ung thư gan tiết ra. Khi phát hiện có một khối u trong gan mà chất AFP > 400ng/mL gần như chắc chắn nghĩ đến ung thư gan, còn nếu chỉ < 200ng/mL cần phải kết hợp thêm nhiều xét nghiệm khác để kết luận bệnh. Tuy nhiên,vẫn có khoảng 30-40% trường hợp ung thư gan mà kết quả AFP hoàn toàn bình thường.

Việc chẩn đoán xác định cuối cùng là có ung thư gan hay không phải dựa vào kết quả sinh thiết gan. Sinh thiết gan mới là xét nghiệm có vai trò quyết định nhất cho việc loại trừ ung thư gan với các u lành tính khác của gan cũng như có thể giúp phân biệt ung thư gan là nguyên phát hay thứ phát.

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Bệnh nhân ung thư tuyến giáp nên làm gì để điều trị bệnh tốt nhất?

Những người mắc ung thư tuyến giáp thường muốn tham gia tích cực vào các quyết định chăm sóc sức khoẻ cho mình. Họ muốn biết tất cả những điều họ có thể biết về bệnh của mình và sự lựa chọn tốt nhất cho việc điều trị bệnh. 
Tuy nhiên cú sốc và sang chấn tinh thần mạnh sau khi biết mình được chẩn đoán là ung thư thường làm cho họ khó có thể nghĩ về mọi điều họ muốn hói bác sĩ. 


Vậy các bệnh nhân nên làm gì?
Thường bệnh nhân nên ghi trước các câu hỏi mình muốn hỏi bác sĩ.
Để giúp nhớ được bác sĩ nói gì, bệnh nhân có thể ghi lại hoặc nếu có điều kiện bệnh nhân có thể xin phép bác sĩ ghi âm lại những điều bác sĩ giải thích. Một số bệnh nhân muốn có một thành viên gia đình hoặc một người bạn cùng có mặt khi họ nói chuyện với bác sĩ để tham gia vào việc thảo luận ghi chép hoặc cùng nghe.
Bác sĩ có thể gửi bệnh nhân đến các bác sĩ ung thư học chuyên về điều trị ung thư hoặc bệnh nhân có thể hỏi các trung tâm tư vấn. Các chuyên gia điều trị ung thư bao gồm các bác sĩ ngoại khoa, các nhà nội tiết học (chuyên điều trị các bệnh tuyến nội tiết), các nhà ung thư học nội khoa (các bác sĩ chuyên điều trị bệnh ung thư bằng thuốc) và các nhà ung thư học xạ trị. 
Điều trị thường bắt đầu vài tuần sau chẩn đoán. Làm như vậy để có thời gian bệnh nhân hỏi bác sĩ về việc lựa chọn biện pháp điều tri, nghe thêm một ý kiến thứ hai và học hỏi nhiều hơn về ung thư tuyến giáp.

Nghe thêm một ý kiến thứ hai
Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân nên nghe một ý kiến thứ hai về chẩn đoán và kế hoạch điều trị bệnh. Cách tốt nhất là tham khảo ý kiến của một bác sĩ giải phẫu bệnh và một bác sĩ chuyên về ung thư học. Bác sĩ giải phẫu bệnh có thổ giúp bệnh nhân hiểu rõ thêm về các thế giải phẫu bệnh của bệnh ung thư tuyến giáp và tiến triển của từng thể bệnh. Công việc này đòi hỏi một ít thời gian. 'Trong nhiều trường hợp, sự chậm lại một thời gian ngắn không làm việc điều trị kém hiệu quả hơn.


Chuẩn bị cho việc điều trị
Bác sĩ có thể giải thích cho bệnh nhân việc lựa chọn biện pháp điều trị và các kết quả hi vọng đạt được với từng cách điều trị. Bác sĩ và bệnh nhân có thể cùng hợp tác để lập một kế hoạch điều trị phù hợp với yêu cầu của bệnh nhân.
Việc điều trị phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm loại (giải phẫu bệnh) ung thư tuyến giáp, kích thước của nhân u, tuổi của bệnh nhân và liệu ung thư đã lan tràn hay chưa.

Ung thư tuyến giáp - Triệu chứng và cách chẩn đoán

Các triệu chứng ung thư tuyến giáp
Ung thư tuyến giáp sớm thường không gây các triệu chứng. Tuy nhiên khi bệnh phát triển, các triệu chứng có thể bao gồm:
- Một u hay một nhân ở trước cổ vùng tuyến giáp.
- Giọng khàn hoặc khó nói giọng bình thường.
- Hạch bạch huyết sưng to, đặc biệt là các hạch cổ.
- Khó nuốt hoặc khó thở.
- Đau ở họng hoặc ở cổ.


Các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu chắc chắn của ung thư tuyến giáp. Một nhiễm trùng, một bướu giáp lành tính hoặc một vấn đề khác cũng có thể gây nên các triệu chứng này. Một người nào đó có các triệu chứng này cần đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Chỉ có bác sĩ mới có thể chẩn đoán và điều trị các biếu hiện bệnh này.

Làm thế nào để chẩn đoán phát hiện ung thư tuyến giáp?
Nếu một người có các triệu chứng gọi ý ung thư tuyến giáp, bác sĩ có thể thực hiện khám thực thể và hỏi về lịch sử bệnh của cá nhân bệnh nhân và gia đình. Bác sĩ cũng có thể chỉ định các xét nghiệm hoặc các thử nghiệm chẩn đoán hình ảnh để có các hình ảnh của tuyến giáp và các vùng khác.
Việc khám và xét nghiệm có thể bao gồm:
- Khám thực thể. Bác sĩ sẽ sờ vùng cổ, tuyến giáp và các hạch ở cổ để phát hiện những phát triển (nhân u) hoặc sưng to bất thường.
- Các xét nghiệm máu. Bác sĩ có thể xét nghiệm các mức bất thường của hormone kích thích tuyến giáp TSH trong máu. TSH cũng kiểm soát các tế bào của tuyến giáp nhanh như thế nào.
Nếu một ung thư tuyến giáp thể tuỷ bị nghi ngờ, bác sĩ sẽ kiểm tra mức cao bất thường của calci trong máu. Bác sĩ cũng có thể chỉ định các xét nghiệm máu để phát hiện gen RET biến đổi hoặc tìm mức cao của calcitonin.
Siêu âm: Máy siêu âm sử dụng sóng âm con người không nghe thấy được. Các sóng dịch chuyển qua tuyến giáp và một máy vi tính sứ dụng các âm này để tạo nên hình ảnh gọi là siêu âm đồ. Trên hình ảnh này, bác sĩ có thể nhìn thấy có bao nhiêu nhân u trong tuyến giáp, chúng lớn bằng nào và liệu chúng là đặc hay chứa đầy dịch bên trong.


Quét hình y học hạt nhân: Bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm quét hình y học hạt nhân. Phương pháp này sứ dụng một lượng rất nhỏ vật liệu phóng xạ để làm cho các nhân u tuyến giáp hiện hình trên ảnh. Các nhân hấp thụ ít các vật liệu phóng xạ hơn mô tuyến giáp xung quanh gọi là nhân lạnh. Các nhân lạnh có thể lành tính hay ác tính. Các nhân nóng hấp thụ nhiều các vật liệu phóng xạ hơn mô tuyến giáp xung quanh và thường là lành tính.
Sinh thiết: Kỹ thuật lấy mô để tìm tế bào ung thư gọi là sinh thiết. Sinh thiết có thể cho biết ung thư, những thay đối mô dãn đến ung thư và các bệnh khác. Sinh thiết là phương pháp duy nhất để biết liệu một nhân u có phải là ung thư không.
Bác sĩ có thể lấy mô bằng kim hay không trong khi phẫu thuật:
Hút kim nhỏ. Với nhiều bệnh nhân, bác sĩ lấy mẫu mô từ nhân u tuyến giáp bằng một kim nhỏ. Bác sĩ giải phẫu bệnh (bác sĩ bệnh học) quan sát các tế bào dưới kính hiển vi để tìm ung thư. Đôi khi bác sĩ sử dụng máy siêu âm đổ hướng dẫn kim vào nhân u.
Sinh thiết phẫu thuật: nếu một chẩn đoán không thể thực hiện được bằng hút kim nhỏ, bác sĩ có thể mổ để lấy nhân u. Sau đó bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ kiểm tra mô này để tìm các tế bào ung thư.

Các giai đoạn trong ung thư tuyến giáp
Nếu một chẩn đoán tuyến giáp là ung thư, bác sĩ cần biết giai đoạn bệnh (hay sự lan tràn của bệnh) để lập kế hoạch điều trị một cách tốt nhất. Xác định giai đoạn là một việc làm thận trọng để biết liệu ung thư đã lan tràn chưa và nếu đã lan tràn thì ung thư lan tràn tới phần nào của cơ thể.


Bác sĩ có thể sử dụng siêu âm, chụp cộng hưởng từ hạt nhân (còn gọi là MRI) hoặc chụp cắt lớp vi tính (còn gọi là CT) để tìm hiểu liệu ung thư đã lan tràn đến hạch bạch huyết hoặc các vùng khác ở cổ chưa. Bác sĩ cũng có thể sử dụng quét hình y học hạt nhân toàn cơ thể, chẳng hạn như “quét hình toàn cơ thể bằng 1-131 để chẩn đoán” hoặc các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh khác đế biết liệu ung thư tuyến giáp đã lan tràn tới các vị trí xa của cơ thể chưa.

Ai có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp?

Không ai biết các nguyên nhân chính xác của ung thư tuyến giáp. Nhưng rõ ràng là ung thư tuyến giáp không lây. Các nghiên cứu vừa chứng minh rằng những người có một số yếu tố nguy cơ dẽ phát sinh ung thư tuyến giáp hơn những người khác. Yếu tố nguy cơ là một cái gì đó làm tăng cơ hội của một người phát sinh bệnh.

Những yếu tố nguy cơ dưới đây kết hợp với tăng cơ hội phát sinh ung thư tuyến giáp:
- Xạ trị.
Những người phơi nhiễm với các mức cao của tia xạ dễ bị phát sinh ung thư nhú hoặc nang tuyến giáp hơn những người khác.

- Một nguồn quan trọng của nhiễm xạ là điều trị bằng tia X
Giữa những năm 1920 và 1950, các bác sĩ sử dụng tia X liều cao để điều trị các trẻ em có amidan sưng to, mụn trứng cá và các vấn đẻ khác ảnh hướng đến vùng đầu và cổ. Sau này, các nhà khoa học đã tìm thấy rằng ở một số người được điều trị theo hình thức này phát sinh ung thư tuyến giáp. Các tia X được sử dụng để chẩn đoán thường quy như chụp phim X-quang răng, chụp phim lồng ngực sử dụng một liều rất nhỏ tia X. Lợi ích của nó thường vượt xa rất nhiều so với các nguy cơ.
Tuy nhiên, phơi nhiễm nhắc lại có thể có hại, vì vậy một ý tưởng tốt cho mọi người là hãy hỏi nha sĩ và bác sĩ của mình về yêu cầu cho mỗi lần chụp X- quang và đề nghị sử dụng các trường che (shield) bảo vệ các phần khác của cơ thể.


- Một nguồn bức xạ khác của cơ thể là bụi phóng xạ.
Nguồn bụi phóng xạ này có thể từ các vụ thử vũ khí hạt nhân (như các vụ thử vũ khí hạt nhân ở Mỹ và các nơi khác chú yếu trong những năm 1950 và 1960, tai nạn của nhà máy điện nguyên tử (như vụ nổ nhà máy điện nguyên tử ở Chernobyl năm 1986 ờ Liên xô cũ) hoặc bụi phóng xạ thoát ra từ nhà máy chế tạo vũ khí hạt nhân (như ở nhà máy Hanford ở bang Washington vào cuối những năm 1940. Các bụi phóng xạ này có chứa iod phóng xạ (1-131). Những người phơi nhiễm với một hay nhiều nguồn 1-131, đặc biệt, nếu là trẻ em vào thời điểm phơi nhiễm có thể tăng nguy cơ với bệnh tuyến giáp.

- Lịch sử gia đình.
Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tuỷ có thể gây nên do một biến đổi hoặc tổn hại trong một gene gọi 1à RET. Gene RET bị tổn hại có thể được truyền từ bô mẹ cho con. Hầu như mỗi người có gene RET bị tổn hại sẽ phát sinh ung thư tuyến giáp thể tuỷ. Một xét nghiệm máu có thể phát hiện được gene RET bị tổn hại. Nếu một gene RET bị tổn hại được phát hiện ở một người ung thư biểu mô tuý tuyến giáp, bác sĩ có thể gợi ý các thành viên trong gia đình xét nghiệm gene RET. Với những người có mang gene RET biến đổi, bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm thường xuyên hoặc phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp trước khi ung thư phát sinh. Khi ung thư tuyến giáp thể tuỷ xảy ra trong một gia đình, bác sĩ có thể gọi đây là “ung thư tuyến giáp thế tuỷ gia đình” hoặc “hội chứng nhiều u nội tiết” (hội chứng MEN). Những người có hội chứng MEN có xu hướng phát sinh một số loại ung thư khác.
Một số nhỏ những người có lịch sử gia đình mắc bệnh bướu giáp hoặc một số poe-lyp tiền ung thư ờ đại tràng có nguy cơ phát sinh ung thư tuyến giáp thổ tuỷ.

- Là phụ nữ. 
Tại Mỹ, phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp cao hơn nam giới từ 2 đến 3 lần.


- Tuổi
Hầu hết các bệnh nhân ung thư tuyến giáp ở tuổi trên 40. Những người với ung thư tuyến giáp mất biệt hoá thường trên 65 tuổi.

- Chủng tộc.
Tại Mỹ, những người Mỹ nguồn gốc châu Phi thường bị ung thư tuyến giáp nhiều hơn.

- Không đủ iod trong chế độ ăn
Tuyến giáp cần iod để sản xuất hormone của mình. Tại một số nước và ở Việt Nam iod được bổ sung vào muối để bảo vệ người dân khỏi bị bệnh tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp hình như ít phổ biến hơn ở những nước iod không là một phần của khấu phần ăn.

Nhiều người có các yếu tố nguy cơ đã biết không bị ung thư tuyến giáp. Trái lại nhiều người mắc ung thư tuyến giáp nhưng không có bất kỳ yếu tố nào trong các yếu tố nguy cơ này. Những người nghĩ rằng mình có nguy cơ phát sinh ung thư tuyến giáp có thể trình bày những băn khoăn của mình với bác sĩ. Bác sĩ có thể gợi ý các phương pháp đế làm giảm nguy cơ hoặc có thể lập các kế hoạch thích hợp để kiểm tra.

Những điều cần biết về ung thư tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến nằm ở cổ. Có hai loại tế bào sản xuất hormone. Các tế bào nang (các tế bào tạo thành các hình túi nhỏ hay còn gọi là nang tuyến) sản xuất hormone tuyến giáp, nó ảnh hưởng đến nhịp tim, nhiệt độ và mức năng lượng của cơ thể. Các tế bào c sản xuất calcitonin, một hormone giúp kiểm soát mức calci trong máu.
Tuyến giáp hình con bướm, nằm ở trước cổ, bên cạnh hộp thanh âm. Nó có hai phần hoặc hai thuỳ. Hai thuỳ phân cách nhau bởi một phần mỏng gọi là eo.


Tuyến giáp thường không thế sờ thấy qua da. Một thuỳ giáp sưng to có thể nhìn thấy hay sờ thấy như một cục ở trước cổ. Tuyến giáp sưng to được gọi là bướu giáp. Phần lớn các bướu giáp sinh ra do không đủ iod trong thức ăn. Iod là một chất tìm thấy trong loài giáp xác (sò, tôm, cua) và muối iod.
Các loại chính của ung thư tuyến giáp:
Ung thư biểu mô nhú và nang chiếm tới 80 đến 90% tất cả các ung thư tuyến giáp. Cả hai loại bắt nguồn từ các tế bào nang của tuyến giáp. Hầu hết các ung thư nhú và nang có xu hướng phát triển chậm. Nếu chúng được phát hiện sớm, hầu hết có thể được điều trị có hiệu quả.
Ung thư tuyến giáp thể tuỷ chiếm 5 đến 10% các trường hợp ung thư tuyến giáp. Nó phát sinh từ các tế bào c, không phải từ các tế bào nang. Ung thư tuyến giáp thể tuỷ có thể dễ dàng kiểm soát nếu nó được tìm thấy và điều trị trước khi nó lan tràn ra các phần khác của cơ thể.
Ung thư tuyến giáp mất biệt hoá là loại ung thư tuyến giáp ít phổ biến nhất (chỉ chiếm 1 - 2% các trường hợp). Nó phát sinh trong các tế bào nang. Các tế bào ung thư bất thường cao và khó nhận biết. Loại này của ung thư rất khó kiếm soát vì các tế bào ung thư có xu hướng phát triển và lan tràn rất nhanh.

Nếu ung thư tuyến giáp lan tràn (di căn) ra ngoài tuyến giáp, các tế bào ung thư được tìm thấy ở gần hạch bạch huyết, dây thần kinh hoặc các mạch máu. Nếu ung thư xâm nhập được vào các hạch bạch huyết, các tế bào ung thư cũng có thể lan tràn tới các hạch bạch huyết khác hoặc tới các cơ quan khác như phổi hoặc xương.

Khi ung thư lan tràn từ một vị trí nguồn gốc (ban đầu) tói một phần khác của cơ thể, u mới có các tế bào bất thường cùng loại và cùng tên với u nguyên phát. Ví dụ nếu ung thư tuyến giáp lan tràn tới phối, các tế bào ung thư ở phổi là tế bào ung thư tuyến giáp. Bệnh là ung thư tuyến giáp di căn, không phải là ung thư phổi. Nó được điều trị như một ung thư tuyến giáp, không phải như một ung thư phổi. Đôi khi các bác sĩ gọi u mới là “bệnh xa” hoặc bệnh di căn.