Một trong những đặc điểm của bệnh lý gan ở Việt Nam là
có nhiều bệnh gan do nhiễm các loại vi sinh vật, ký sinh trùng... mà nguyên
nhân chủ yếu là do ý thức về vệ sinh của người dân cũng như các điều kiện vệ
sinh môi trường chưa được tốt. Trong đó, bệnh gan do nhiễm các loại ký sinh
trùng đường ruột như nhiễm sán lá gan tương đối khá phổ biến.
BỆNH NHIỄM SÁN LÁ GAN LÀ GÌ?
Đây cũng là một bệnh gây ra do một loại ký sinh trùng có hình
dạng dẹp giống như chiếc lá, màu nâu đỏ, sống trong đường mật và trong gan nên
được gọi là sán lá gan. Bệnh này chủ yếu xảy ra ở các súc vật như trâu, bò, cừu,
ngựa... Con người chỉ tình cờ bị nhiễm bệnh mà thôi.
Sán lá gan có hai loại: Sán lá lớn có tên khoa học là
Fasciola hepatica và sán lá nhỏ có tên khoa học là Clonorchis sinensis.
Chu kỳ phát triển của hai loại sán lá trên có một số đặc điểm
khác nhau:
1/ Sán lá lớn đẻ trứng. Trứng theo đường mật xuống ruột rồi
theo phân ra ngoài, ở môi trường nước ngọt, trứng nở ra ấu trùng tức là các dạng
ký sinh trùng còn nhỏ chưa trưởng thành. Âu trùng sống ký sinh trong một loại ốc
rồi qua nhiều giai đoạn biến đổi, ấu trùng chui ra khỏi ốc và sống dưới nước,
bám vào các rau cỏ mọc ở nước. Khi người hoặc súc vật uống nước hoặc ăn phải rau bị nhiễm,
ấu trùng sẽ đi vào trong ruột. Tiếp theo đó, nó đi xuyên qua màng bụng, rồi
xuyên qua màng bao gan để cư trú trong gan. Một thời gian sau, sán lá di chuyển
dần đến sống trong đường mật. Khi trưởng thành, sán lá đẻ trứng ở trong đường mật.
Do đó, bị nhiễm sán lá lớn chủ yếu là do ăn các rau cỏ sống dưới nước bị nhiễm
như rau muống ở ao hồ, ngó sen... mà không được rửa kỹ hoặc nấu chín.
2/ Sán lá nhỏ sống chủ yếu trong đường mật và đẻ trứng. Trứng
cũng theo phân ra ngoài. Gặp nước, trứng sẽ nở ra ấu trùng. Ấu trùng ký sinh
trong các sinh vật sống ở dưới nước như cá, ốc... Chúng ta bị nhiễm sán lá nhỏ
là do ăn các loại cá như cá chép, cá rô... và các loại ốc đã bị nhiễm mà không
được nấu chín. Những nơi có thói quen ăn gỏi cá sống, cá nướng trui hoặc các
món ốc mà không được nấu chín thường dễ bị nhiễm sán lá nhỏ. Ấu trùng vào ruột
sẽ đi ngược lên đường mật rồi cư trú ở đó. Khi sán lá nhỏ trưởng thành sẽ đẻ trứng
và tiếp tục chu trình lây nhiễm cho người khác.
BIỂU HIỆN CỦA
BỆNH NHIỄM SÁN LÁ GAN NHƯ THẾ NÀO?
Ở Việt Nam, nhiễm sán lá lớn thường gặp ở các tỉnh miền Trung
đi từ Khánh Hoà-Nha Trang đến Thừa Thiên-Huế... Còn nhiễm sán lá nhỏ đa số gặp ở
các tỉnh miền Bắc.
Trong thời kỳ đầu, bệnh nhân thường bị sốt nhưng không cao lắm,
rối loạn tiêu hóa, nổi mẩn đỏ ngoài da. Gan có thể to và đau tức vùng dưới sườn
bên phải. Sán lá gan có thể gây viêm nhiễm và tắc đường mật. Lúc đó, bệnh nhân
có thể bị vàng da. Lâu ngày, có thể gây xơ gan do tắc mật hoặc tiến triển thành
ung thư đường mật. Bệnh nhân thường được chẩn đoán lầm là áp xe gan do amíp và
được điều trị bằng các thuốc trị amíp và kháng sinh cho nên bênh vẫn không
thuyên giảm.
Việc chẩn đoán bệnh được dựa vào các biểu hiện gợi ý, siêu âm
bụng và đặc biệt là xét nghiệm máu tìm kháng thể kháng sán lá gan. Ngoài ra, bạch
cầu ái toan trong máu tăng cao cũng có giá trị hướng dẫn cho việc chẩn đoán.
Xét nghiệm phân ít khi tìm được trứng sán lá gan.
Hiện nay, thuốc điều trị đặc hiệu cho nhiễm sán lá lớn ở gan
là Bithionol hay Triclabenzolc nhưng các thuốc này chưa có mặt trên thị trường
Việt Nam. Chúng ta có thể điều trị thay thế bằng Emetine (tiêm bắp trong 10
ngày), Praziquantel (Biltricide hay Distocide) và Albendazole (Zentel). Đối với
sán lá nhỏ ở gan cũng có hiệu quả khi dùng Praziquantel và Albendazole.
Vẫn là các biện pháp vệ sinh về thực phẩm và ăn uống. Quan trọng
nhất là không ăn các loại rau sống mà không được rửa kỹ và nên tránh ăn các loại
thức ăn được làm từ ốc và cá sống như gỏi cá sống, cá nướng trui...



















