Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Bệnh nhân ung thư tuyến giáp nên làm gì để điều trị bệnh tốt nhất?

Những người mắc ung thư tuyến giáp thường muốn tham gia tích cực vào các quyết định chăm sóc sức khoẻ cho mình. Họ muốn biết tất cả những điều họ có thể biết về bệnh của mình và sự lựa chọn tốt nhất cho việc điều trị bệnh. 
Tuy nhiên cú sốc và sang chấn tinh thần mạnh sau khi biết mình được chẩn đoán là ung thư thường làm cho họ khó có thể nghĩ về mọi điều họ muốn hói bác sĩ. 


Vậy các bệnh nhân nên làm gì?
Thường bệnh nhân nên ghi trước các câu hỏi mình muốn hỏi bác sĩ.
Để giúp nhớ được bác sĩ nói gì, bệnh nhân có thể ghi lại hoặc nếu có điều kiện bệnh nhân có thể xin phép bác sĩ ghi âm lại những điều bác sĩ giải thích. Một số bệnh nhân muốn có một thành viên gia đình hoặc một người bạn cùng có mặt khi họ nói chuyện với bác sĩ để tham gia vào việc thảo luận ghi chép hoặc cùng nghe.
Bác sĩ có thể gửi bệnh nhân đến các bác sĩ ung thư học chuyên về điều trị ung thư hoặc bệnh nhân có thể hỏi các trung tâm tư vấn. Các chuyên gia điều trị ung thư bao gồm các bác sĩ ngoại khoa, các nhà nội tiết học (chuyên điều trị các bệnh tuyến nội tiết), các nhà ung thư học nội khoa (các bác sĩ chuyên điều trị bệnh ung thư bằng thuốc) và các nhà ung thư học xạ trị. 
Điều trị thường bắt đầu vài tuần sau chẩn đoán. Làm như vậy để có thời gian bệnh nhân hỏi bác sĩ về việc lựa chọn biện pháp điều tri, nghe thêm một ý kiến thứ hai và học hỏi nhiều hơn về ung thư tuyến giáp.

Nghe thêm một ý kiến thứ hai
Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân nên nghe một ý kiến thứ hai về chẩn đoán và kế hoạch điều trị bệnh. Cách tốt nhất là tham khảo ý kiến của một bác sĩ giải phẫu bệnh và một bác sĩ chuyên về ung thư học. Bác sĩ giải phẫu bệnh có thổ giúp bệnh nhân hiểu rõ thêm về các thế giải phẫu bệnh của bệnh ung thư tuyến giáp và tiến triển của từng thể bệnh. Công việc này đòi hỏi một ít thời gian. 'Trong nhiều trường hợp, sự chậm lại một thời gian ngắn không làm việc điều trị kém hiệu quả hơn.


Chuẩn bị cho việc điều trị
Bác sĩ có thể giải thích cho bệnh nhân việc lựa chọn biện pháp điều trị và các kết quả hi vọng đạt được với từng cách điều trị. Bác sĩ và bệnh nhân có thể cùng hợp tác để lập một kế hoạch điều trị phù hợp với yêu cầu của bệnh nhân.
Việc điều trị phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm loại (giải phẫu bệnh) ung thư tuyến giáp, kích thước của nhân u, tuổi của bệnh nhân và liệu ung thư đã lan tràn hay chưa.

Ung thư tuyến giáp - Triệu chứng và cách chẩn đoán

Các triệu chứng ung thư tuyến giáp
Ung thư tuyến giáp sớm thường không gây các triệu chứng. Tuy nhiên khi bệnh phát triển, các triệu chứng có thể bao gồm:
- Một u hay một nhân ở trước cổ vùng tuyến giáp.
- Giọng khàn hoặc khó nói giọng bình thường.
- Hạch bạch huyết sưng to, đặc biệt là các hạch cổ.
- Khó nuốt hoặc khó thở.
- Đau ở họng hoặc ở cổ.


Các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu chắc chắn của ung thư tuyến giáp. Một nhiễm trùng, một bướu giáp lành tính hoặc một vấn đề khác cũng có thể gây nên các triệu chứng này. Một người nào đó có các triệu chứng này cần đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Chỉ có bác sĩ mới có thể chẩn đoán và điều trị các biếu hiện bệnh này.

Làm thế nào để chẩn đoán phát hiện ung thư tuyến giáp?
Nếu một người có các triệu chứng gọi ý ung thư tuyến giáp, bác sĩ có thể thực hiện khám thực thể và hỏi về lịch sử bệnh của cá nhân bệnh nhân và gia đình. Bác sĩ cũng có thể chỉ định các xét nghiệm hoặc các thử nghiệm chẩn đoán hình ảnh để có các hình ảnh của tuyến giáp và các vùng khác.
Việc khám và xét nghiệm có thể bao gồm:
- Khám thực thể. Bác sĩ sẽ sờ vùng cổ, tuyến giáp và các hạch ở cổ để phát hiện những phát triển (nhân u) hoặc sưng to bất thường.
- Các xét nghiệm máu. Bác sĩ có thể xét nghiệm các mức bất thường của hormone kích thích tuyến giáp TSH trong máu. TSH cũng kiểm soát các tế bào của tuyến giáp nhanh như thế nào.
Nếu một ung thư tuyến giáp thể tuỷ bị nghi ngờ, bác sĩ sẽ kiểm tra mức cao bất thường của calci trong máu. Bác sĩ cũng có thể chỉ định các xét nghiệm máu để phát hiện gen RET biến đổi hoặc tìm mức cao của calcitonin.
Siêu âm: Máy siêu âm sử dụng sóng âm con người không nghe thấy được. Các sóng dịch chuyển qua tuyến giáp và một máy vi tính sứ dụng các âm này để tạo nên hình ảnh gọi là siêu âm đồ. Trên hình ảnh này, bác sĩ có thể nhìn thấy có bao nhiêu nhân u trong tuyến giáp, chúng lớn bằng nào và liệu chúng là đặc hay chứa đầy dịch bên trong.


Quét hình y học hạt nhân: Bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm quét hình y học hạt nhân. Phương pháp này sứ dụng một lượng rất nhỏ vật liệu phóng xạ để làm cho các nhân u tuyến giáp hiện hình trên ảnh. Các nhân hấp thụ ít các vật liệu phóng xạ hơn mô tuyến giáp xung quanh gọi là nhân lạnh. Các nhân lạnh có thể lành tính hay ác tính. Các nhân nóng hấp thụ nhiều các vật liệu phóng xạ hơn mô tuyến giáp xung quanh và thường là lành tính.
Sinh thiết: Kỹ thuật lấy mô để tìm tế bào ung thư gọi là sinh thiết. Sinh thiết có thể cho biết ung thư, những thay đối mô dãn đến ung thư và các bệnh khác. Sinh thiết là phương pháp duy nhất để biết liệu một nhân u có phải là ung thư không.
Bác sĩ có thể lấy mô bằng kim hay không trong khi phẫu thuật:
Hút kim nhỏ. Với nhiều bệnh nhân, bác sĩ lấy mẫu mô từ nhân u tuyến giáp bằng một kim nhỏ. Bác sĩ giải phẫu bệnh (bác sĩ bệnh học) quan sát các tế bào dưới kính hiển vi để tìm ung thư. Đôi khi bác sĩ sử dụng máy siêu âm đổ hướng dẫn kim vào nhân u.
Sinh thiết phẫu thuật: nếu một chẩn đoán không thể thực hiện được bằng hút kim nhỏ, bác sĩ có thể mổ để lấy nhân u. Sau đó bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ kiểm tra mô này để tìm các tế bào ung thư.

Các giai đoạn trong ung thư tuyến giáp
Nếu một chẩn đoán tuyến giáp là ung thư, bác sĩ cần biết giai đoạn bệnh (hay sự lan tràn của bệnh) để lập kế hoạch điều trị một cách tốt nhất. Xác định giai đoạn là một việc làm thận trọng để biết liệu ung thư đã lan tràn chưa và nếu đã lan tràn thì ung thư lan tràn tới phần nào của cơ thể.


Bác sĩ có thể sử dụng siêu âm, chụp cộng hưởng từ hạt nhân (còn gọi là MRI) hoặc chụp cắt lớp vi tính (còn gọi là CT) để tìm hiểu liệu ung thư đã lan tràn đến hạch bạch huyết hoặc các vùng khác ở cổ chưa. Bác sĩ cũng có thể sử dụng quét hình y học hạt nhân toàn cơ thể, chẳng hạn như “quét hình toàn cơ thể bằng 1-131 để chẩn đoán” hoặc các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh khác đế biết liệu ung thư tuyến giáp đã lan tràn tới các vị trí xa của cơ thể chưa.

Ai có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp?

Không ai biết các nguyên nhân chính xác của ung thư tuyến giáp. Nhưng rõ ràng là ung thư tuyến giáp không lây. Các nghiên cứu vừa chứng minh rằng những người có một số yếu tố nguy cơ dẽ phát sinh ung thư tuyến giáp hơn những người khác. Yếu tố nguy cơ là một cái gì đó làm tăng cơ hội của một người phát sinh bệnh.

Những yếu tố nguy cơ dưới đây kết hợp với tăng cơ hội phát sinh ung thư tuyến giáp:
- Xạ trị.
Những người phơi nhiễm với các mức cao của tia xạ dễ bị phát sinh ung thư nhú hoặc nang tuyến giáp hơn những người khác.

- Một nguồn quan trọng của nhiễm xạ là điều trị bằng tia X
Giữa những năm 1920 và 1950, các bác sĩ sử dụng tia X liều cao để điều trị các trẻ em có amidan sưng to, mụn trứng cá và các vấn đẻ khác ảnh hướng đến vùng đầu và cổ. Sau này, các nhà khoa học đã tìm thấy rằng ở một số người được điều trị theo hình thức này phát sinh ung thư tuyến giáp. Các tia X được sử dụng để chẩn đoán thường quy như chụp phim X-quang răng, chụp phim lồng ngực sử dụng một liều rất nhỏ tia X. Lợi ích của nó thường vượt xa rất nhiều so với các nguy cơ.
Tuy nhiên, phơi nhiễm nhắc lại có thể có hại, vì vậy một ý tưởng tốt cho mọi người là hãy hỏi nha sĩ và bác sĩ của mình về yêu cầu cho mỗi lần chụp X- quang và đề nghị sử dụng các trường che (shield) bảo vệ các phần khác của cơ thể.


- Một nguồn bức xạ khác của cơ thể là bụi phóng xạ.
Nguồn bụi phóng xạ này có thể từ các vụ thử vũ khí hạt nhân (như các vụ thử vũ khí hạt nhân ở Mỹ và các nơi khác chú yếu trong những năm 1950 và 1960, tai nạn của nhà máy điện nguyên tử (như vụ nổ nhà máy điện nguyên tử ở Chernobyl năm 1986 ờ Liên xô cũ) hoặc bụi phóng xạ thoát ra từ nhà máy chế tạo vũ khí hạt nhân (như ở nhà máy Hanford ở bang Washington vào cuối những năm 1940. Các bụi phóng xạ này có chứa iod phóng xạ (1-131). Những người phơi nhiễm với một hay nhiều nguồn 1-131, đặc biệt, nếu là trẻ em vào thời điểm phơi nhiễm có thể tăng nguy cơ với bệnh tuyến giáp.

- Lịch sử gia đình.
Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tuỷ có thể gây nên do một biến đổi hoặc tổn hại trong một gene gọi 1à RET. Gene RET bị tổn hại có thể được truyền từ bô mẹ cho con. Hầu như mỗi người có gene RET bị tổn hại sẽ phát sinh ung thư tuyến giáp thể tuỷ. Một xét nghiệm máu có thể phát hiện được gene RET bị tổn hại. Nếu một gene RET bị tổn hại được phát hiện ở một người ung thư biểu mô tuý tuyến giáp, bác sĩ có thể gợi ý các thành viên trong gia đình xét nghiệm gene RET. Với những người có mang gene RET biến đổi, bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm thường xuyên hoặc phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp trước khi ung thư phát sinh. Khi ung thư tuyến giáp thể tuỷ xảy ra trong một gia đình, bác sĩ có thể gọi đây là “ung thư tuyến giáp thế tuỷ gia đình” hoặc “hội chứng nhiều u nội tiết” (hội chứng MEN). Những người có hội chứng MEN có xu hướng phát sinh một số loại ung thư khác.
Một số nhỏ những người có lịch sử gia đình mắc bệnh bướu giáp hoặc một số poe-lyp tiền ung thư ờ đại tràng có nguy cơ phát sinh ung thư tuyến giáp thổ tuỷ.

- Là phụ nữ. 
Tại Mỹ, phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp cao hơn nam giới từ 2 đến 3 lần.


- Tuổi
Hầu hết các bệnh nhân ung thư tuyến giáp ở tuổi trên 40. Những người với ung thư tuyến giáp mất biệt hoá thường trên 65 tuổi.

- Chủng tộc.
Tại Mỹ, những người Mỹ nguồn gốc châu Phi thường bị ung thư tuyến giáp nhiều hơn.

- Không đủ iod trong chế độ ăn
Tuyến giáp cần iod để sản xuất hormone của mình. Tại một số nước và ở Việt Nam iod được bổ sung vào muối để bảo vệ người dân khỏi bị bệnh tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp hình như ít phổ biến hơn ở những nước iod không là một phần của khấu phần ăn.

Nhiều người có các yếu tố nguy cơ đã biết không bị ung thư tuyến giáp. Trái lại nhiều người mắc ung thư tuyến giáp nhưng không có bất kỳ yếu tố nào trong các yếu tố nguy cơ này. Những người nghĩ rằng mình có nguy cơ phát sinh ung thư tuyến giáp có thể trình bày những băn khoăn của mình với bác sĩ. Bác sĩ có thể gợi ý các phương pháp đế làm giảm nguy cơ hoặc có thể lập các kế hoạch thích hợp để kiểm tra.

Những điều cần biết về ung thư tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến nằm ở cổ. Có hai loại tế bào sản xuất hormone. Các tế bào nang (các tế bào tạo thành các hình túi nhỏ hay còn gọi là nang tuyến) sản xuất hormone tuyến giáp, nó ảnh hưởng đến nhịp tim, nhiệt độ và mức năng lượng của cơ thể. Các tế bào c sản xuất calcitonin, một hormone giúp kiểm soát mức calci trong máu.
Tuyến giáp hình con bướm, nằm ở trước cổ, bên cạnh hộp thanh âm. Nó có hai phần hoặc hai thuỳ. Hai thuỳ phân cách nhau bởi một phần mỏng gọi là eo.


Tuyến giáp thường không thế sờ thấy qua da. Một thuỳ giáp sưng to có thể nhìn thấy hay sờ thấy như một cục ở trước cổ. Tuyến giáp sưng to được gọi là bướu giáp. Phần lớn các bướu giáp sinh ra do không đủ iod trong thức ăn. Iod là một chất tìm thấy trong loài giáp xác (sò, tôm, cua) và muối iod.
Các loại chính của ung thư tuyến giáp:
Ung thư biểu mô nhú và nang chiếm tới 80 đến 90% tất cả các ung thư tuyến giáp. Cả hai loại bắt nguồn từ các tế bào nang của tuyến giáp. Hầu hết các ung thư nhú và nang có xu hướng phát triển chậm. Nếu chúng được phát hiện sớm, hầu hết có thể được điều trị có hiệu quả.
Ung thư tuyến giáp thể tuỷ chiếm 5 đến 10% các trường hợp ung thư tuyến giáp. Nó phát sinh từ các tế bào c, không phải từ các tế bào nang. Ung thư tuyến giáp thể tuỷ có thể dễ dàng kiểm soát nếu nó được tìm thấy và điều trị trước khi nó lan tràn ra các phần khác của cơ thể.
Ung thư tuyến giáp mất biệt hoá là loại ung thư tuyến giáp ít phổ biến nhất (chỉ chiếm 1 - 2% các trường hợp). Nó phát sinh trong các tế bào nang. Các tế bào ung thư bất thường cao và khó nhận biết. Loại này của ung thư rất khó kiếm soát vì các tế bào ung thư có xu hướng phát triển và lan tràn rất nhanh.

Nếu ung thư tuyến giáp lan tràn (di căn) ra ngoài tuyến giáp, các tế bào ung thư được tìm thấy ở gần hạch bạch huyết, dây thần kinh hoặc các mạch máu. Nếu ung thư xâm nhập được vào các hạch bạch huyết, các tế bào ung thư cũng có thể lan tràn tới các hạch bạch huyết khác hoặc tới các cơ quan khác như phổi hoặc xương.

Khi ung thư lan tràn từ một vị trí nguồn gốc (ban đầu) tói một phần khác của cơ thể, u mới có các tế bào bất thường cùng loại và cùng tên với u nguyên phát. Ví dụ nếu ung thư tuyến giáp lan tràn tới phối, các tế bào ung thư ở phổi là tế bào ung thư tuyến giáp. Bệnh là ung thư tuyến giáp di căn, không phải là ung thư phổi. Nó được điều trị như một ung thư tuyến giáp, không phải như một ung thư phổi. Đôi khi các bác sĩ gọi u mới là “bệnh xa” hoặc bệnh di căn.