Ung
thư nội mạc tử cung thường gặp 70% ở phụ nữ sau mãn kinh, 25% tiền mãn kinh và
5% trong độ tuổi sinh đẻ. Tại Việt Nam, ung thư nội mạc tử cung có tỷ lệ mắc là
2,5/100.000 dân, tỷ lệ tử vong là 0,9/100.000 dân, đứng hàng thứ 12 trong các
loại ung thư ở nữ giới.
Tử
cung là một tạng rỗng, thân tử cung được cấu tạo chính bởi 2 lớp: trong cùng được
lót một lớp mỏng gọi là nội mạc tử cung, phía ngoài là lớp cơ. Ung thư nội mạc tử cung là bệnh mà các tế bào của lớp nội mạc tử cung bị biến đổi ác tính thành
tế bào ung thư. Các tế bào ung thư phát triển tạo thành khối u tại chỗ sau đó
xâm lấn rộng, phá vỡ các tổ chức xung quanh và cuối cùng theo đường máu hoặc bạch
huyết các tế bào ung thư này sẽ di căn đến hạch bạch huyết hoặc các cơ quan ở xa
khác như phối, gan, não, xương...
Các yếu tố nguy cơ gây
bệnh
Tuổi
ung thư nội mạc tử cung gặp chủ yếu ở phụ nữ sau mãn kinh (75%), đa số trong
khoáng 55- 60 tuổi, khoảng 5% xuất hiện ở tuổi dưới 40; mất cân bằng estrogen ở
những người có vòng kinh không phóng noãn; điều trị nội tiết thay thế bằng estrogen;
những người có kinh sớm (trước 12 tuổi) và mãn kinh muộn (sau 50 tuổi); không
sinh con; béo phì; chế độ ăn nhiều mỡ động vật; mắc bệnh tăng huyết áp; đái tháo đường; mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng; dùng thuốc tamoxifen điều
trị ung thư vú...
Các yếu tố có tác dụng phòng bệnh đó là điều chính chế độ ăn
uống (tăng cường rau quả, giảm chất béo động vật), duy trì cân nặng hợp lý,
dùng thuốc tránh thai hay thuốc nội tiết thay thế có progestin có thể làm giảm
nguy cơ mắc bệnh này.
Triệu chứng thường gặp
-
Ở phụ nữ đã mãn kinh: Chảy máu, chảy dịch hoặc máu lẫn dịch bất thường ở âm đạo.
Chảy máu lúc đầu ở dạng loãng, có các vệt máu, sau đó lượng máu tăng dần lên.
-
Ở phụ nữ chưa mãn kinh: Chảy máu ngoài chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau quan hệ
tình dục.
Khi
có các dấu hiệu bất thường trên, người bệnh cần phải đến các cơ sở y tế chuyên
khoa để khám xét tỉ mỉ và làm các xét nghiệm cần thiết giúp chẩn đoán được bệnh
từ giai đoạn sớm.
Bệnh
ở giai đoạn muộn, các triệu chứng có thể gặp như đau bụng, đái ra máu hoặc bí
đái do khối u chèn ép, xâm lấn vào bàng quang, hoặc có khi đi ngoài ra máu hoặc
không đi ngoài được do khối u chèn ép, xâm lấn vào trực tràng phía sau.
Về toàn
trạng, bệnh nhân có thể có các biểu hiện mệt mỏi, thiếu máu, gầy sút cân, đặc
biệt có những bệnh nhân để bệnh quá muộn, khi đến viện bệnh đã ở giai đoạn cuối,
di căn nhiều nơi, việc chữa trị rất khó khăn, tốn kém và ít hiệu quả. Vì vậy nhận
biết được các dấu hiệu sớm của bệnh, chị em nên đi khám để được chẩn đoán và điều
trị kịp thời.
Khi
đến khám bệnh, bệnh nhân có thể cần làm một số xét nghiệm như: nạo buồng tử
cung lấy bệnh phẩm làm tế bào học và giải phẫu bệnh học giúp chẩn đoán bệnh một
cách chắc chắn, ngoài ra cần khám và làm một số xét nghiệm: chụp buồng tử cung
vòi trứng, siêu âm, soi buồng tử cung, chụp hệ tiết niệu, soi bàng quang, trực
tràng khi nghi ngờ có xâm lấn tới hai cơ quan này; chụp cắt lớp vi tính, cộng
hưởng từ giúp chẩn đoán mức độ lan rộng của bệnh.
Các giai đoạn của bệnh:
Giai đoạn I:
U phát triển giới hạn ở thân tử cung.
Giai đoạn II:
U xâm lấn lan rộng đến cổ tử cung nhưng chưa lan ra khỏi tử cung.
Giai đoạn III:
U lan ra ngoài tử cung nhưng còn khu trú trong khung chậu.
Giai đoạn IV:
Đã có di căn xa.
Ở
giai đoạn càng sớm thì tỷ lệ chữa khỏi càng cao, đó còn là cơ sở quan trọng
giúp cho các bác sĩ lựa chọn các phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh
nhân.
Phương
pháp điều trị bệnh ung thư nội mạc tử cung: Bao gồm phẫu thuật, tia xạ, hoá chất
và nội tiết.
Điều
trị bằng phẫu thuật là phương pháp quan trọng nhất, được áp dụng cho phần lớn
các bệnh nhân ở giai đoạn sớm (giai đoạn I, II). Ở giai đoạn muộn hơn, khi khối
u đã lan rộng, việc phẫu thuật triệt căn gặp nhiều khó khăn và có nhiều biến chứng,
do vậy điều trị chú yếu ở giai đoạn này là tia xạ và hoá chất.
Điều
trị nội tiết được áp dụng cho những trường hợp khối u phát triển phụ thuộc vào
nội tiết. Sau khi kết thúc điều trị các bệnh nhân cần được theo dõi sát bằng khám
định kỳ bao gồm khám lâm sàng, siêu âm, chụp phổi,... 3 tháng một lần trong 2
năm đầu, 6 tháng một lần trong các năm tiếp theo để kịp thời phát hiện tái phát
hoặc di căn nếu có.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét